Thị Trường Tiền Tệ Kinh Tế Vĩ Mô Và Tiền Tệ Với Thị Trường Chứng Khoán

*

Năm 2009, đứng trước suy giảm kinh tế và sự sụt giảm của TTCK, Chính phủ đã áp dụng một số biện pháp gián tiếp kích cầu trên TTCK, cụ thể là: thực hiện miễn giảm và giãn thuế thu nhập cá nhân năm 2009, miễn thuế đối với những khoản thu nhập từ đầu tư vốn và chuyển nhượng vốn.

Bên cạnh đó, việc thực hiện CSTT nới lỏng với trọngtâm là giảm lãi suất và hỗ trợ lãi suất 4% trong năm 2009 cũng được xem là mộttrong những giải pháp quan trọng góp phần kích cầu chứng khoán. Năm 2009 – trong bối cảnh nền kinh tế đất nướcphải gồng mình nỗ lực vật lộn để vượt qua suy thoái, nhiều ngành, nhiều lĩnhvực sản xuất – kinh doanh phải chống chọi với khó khăn để duy trì đà tăngtrưởng, thì TTCK Việt Nam đã có một năm về đích ngoạn mục, với nhiều kỷ lụcđược tạo lập sau hơn 9 năm phát triển TTCK. Không ít những kỷ lục đó đã vượt xamong đợi của các NĐT cũng như dự báo của các chuyên gia. Bên cạnh những ấntượng cũng có cả những thăng trầm khi TTCK đảo chiều xuống dốc vào cuối năm gâyngờ ngàng cho không ít NĐT. Một trongnhững nguyên nhân tạo nên những ấn tượng và thăng trầm của TTCK năm 2009 và cảtrong thời gian tới xuất phát từ tác động của chính sách vĩ mô và tiền tệ vớiTTCK.

Đang xem: Thị trường tiền tệ kinh tế vĩ mô

Sau giai đoạn tăng trưởng nóng, từ tháng 11 đến nayTTCK bước vào giai đoạn thoái lui vàthận trọng. Sau thời kỳ doanh số giao dịch lớn kỷ lục, thị trường đi vào chu kỳđiều chỉnh bởi sự tác động từ chính sách vĩ mô và tiền tệ. Bên cạnh nguyên nhânNgân hàng Nhà nước (NHNN) thắt chặt chính sách tiền tệ (CSTT), sự căng thẳngthanh khoản của hệ thống ngân hàng và diễn biến bất thường của giá vàng, ngoạitệ cũng có những tác động lớn đến TTCK.

Lý giải như thế nào về sự đảo chiều của chính sách vĩmô và tiền tệ với TTCK, cũng như phân tích và dự báo ra sao về diễn biến củaTTCK trong giai đoạn tới? Đây là câu hỏi không dễ trả lời.Những cung bậc thăng trầm trên TTCK chịu tác động rất lớn từ chính sách vĩ môvà CSTT. Thực tế cho thấy, trong thời kỳ nỗ lực vượtqua khủng hoảng, các chính sách tài chính, tài khoá kích cầu, giải cứu nền kinhtế đã được Chính phủ cân nhắc và đưa ra một cách hợp lý, tránh cho nền kinh tếViệt Nam rơi sâu vào suy thoái. Sau khoảng 2/3 chặng đường của năm 2009, cácchính sách này đã có những thành công và hiệu quả rõ rệt. Điển hình là việcthông qua gói kích cầu với hình thức bù 4% lãi suất khi các DN vay vốn tại các ngânhàng thương mại. Lãi suất cơ bản cũng được điều chỉnh giảm từ 8,5% xuống 7% -bằng một nửa so với mức đỉnh của năm 2008 – và duy trì liên tục tới cuối tháng11/2009. Tuy nhiên, chính sách kích thích kinh tế mặc dù đã phát huy được tácdụng chính là ngăn chặn đà suy giảm, nhưng cũng tạo ra tác dụng phụ và tiềm ẩn nhữngnguy cơ. Cơ chế hỗ trợ lãi suất tác động làm cho tăng trưởng tín dụng diễn ra khá nhanh (tăng trưởng tín dụng trong 10tháng đầu năm 2009 đạt trên 33%) đã gây sức ép tăng lãi suất, dẫn đến hệ quả làtăng chi phí vốn, làm tăng giá thành sản xuất, đồng thời làm cho việc huy độngvốn trái phiếu Chính phủ gặp nhiều khó khăn (nhiệm vụ huy động vốn thông quaphát hành trái phiếu Chính phủ năm 2009 là 126.000 tỷ đồng, 9 tháng đầu năm mớithực hiện huy động được 20.870 tỷ đồng). Thực tế thời gian qua cho thấy, cơ chế hỗ trợ lãisuất tác động làm cho tín dụng VND tăng trưởng ở mức cao, lãi suất cho vay thấphơn lãi suất tiền gửi, làm “méo mó” khối lượng vốn huy động và lãi suất thịtrường, ảnh hưởng không thuận lợi đến việc kiểm soát tổng phương tiện thanhtoán và ổn định lãi suất và tỷ giá, trong đó biểu hiện đáng chú ý là: Lãi suất VND sau khi đượcgiảm trừ 4% và lãi suất cho vay ngoại tệ gần tương đương nhau, dẫn đến nhu cầuvay VND tăng, làm mất cân đối cung cầu trên thị trường tiền tệ (VND), gây sứcép tăng lãi suất VND và tăng tổng phương tiện thanh toán, gây mất cân đối trênthị trường ngoại hối, tạo sức ép tăng tỷ giá, ảnh hưởng đến cán cân thanh toán.Ngân hàng Nhà nước đã phải can thiệp thị trường nhằm ổn định tỷ giá làm dự trữngoại tệ giảm. Cán cân thanh toán tổng thể thâmhụt 1,9 tỷ đô la, dự trữ ngoại hối giảm, thị trường ngoại hối có biểu hiện căngthẳng về cung cầu ngoại tệ, gây sức ép lên tỷ giá.

Xem thêm: trắc nghiệm thị trường chứng khoán theo chương

Trong bối cảnh kinh tế vĩ mô đã bắt đầu ra khoải suythoái và hồi phục trở lại, những dấu hiệu của lạm phát đã xuất hiện, thị trườngtiền tệ có những biểu hiện bất ổn với sự căng thẳng thanh khoản của hệ thốngngân hàng và diễn biến bất thường của giá vàng, ngoại tệ, NHNN đã bất ngờ thắtchặt CSTT, đồng thời chính sách vĩ mô cũng có những thay đổi. Vào cuối tháng 11/2009 NHNN đã bất ngờ thựchiện nâng lãi suất cơ bản từ 7% lên 8% sau khi đã cam kết ổn định CSTT đến hếtnăm 2009, đồng thời chấp nhận phá giá VND ở mức thấp. Sự điều chỉnh này thểhiện sự thay đổi trong chính sách vĩ mô từ hỗ trợ tăng trưởng sang hướng ổnđịnh vĩ mô (kèm theo là hạn chế nới lỏng tín dụng) sau khi kỳ họp Quốc hội kếtthúc. Mặc dù các chính sách của NHNN có tác động tích cực cho nền kinh tế trongtrung và dài hạn, nhưng điều này đã gây sốc cho cả DN và NĐT trên TTCK, nhữngmầm mống khó khăn trong thanh khoản của ngân hàng xuất hiện, quan ngại về việc DNkhó vay vốn với lãi suất cao. Sự đảo chiều của chính sách đã tạo ra những tácđộng thực đến luồng tiền vào TTCK cũng như những tác động tâm lý thái quá khiếncho các chỉ số chứng khoán rơi vào chu kỳ giảm điểm từ tháng 11. Tính từ đỉnhcao xác lập trong năm, chỉ trong vòng chưa đầy 2 tháng (tháng 11 và 12/2009),chứng khoán mất trên 30% giá trị thì VN-Index đã mất khoảng 30% về điểm số đếncuối năm. NĐT lao vào xả hàng, bán gấp bán rút vì sợ “lịch sử lặplại”, chứng khoán có thể sẽ lập đáy như thời điểm đầu năm.

Có thể nói, gói kích thích kinh tế năm2009 đã thành công, góp phần giải quyết được nhiều vấn đề cấp bách về duy trìtốc độ tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh chịu tác động sâusắc của khủng hoảng kinh tế toàn cầu nhưng cũng đặt ra cho nhiều bài toán khócần giải quyết, đặc biệt là các bài toán cân đối kinh tế vĩ mô để đảm bảo điềukiện cho tăng trưởng cao và bền vững trong giai đoạn tới. Đối với TTCK Việt Nam, điểm quanhững thăng trầm của TTCK trong năm qua để thấy sức mạnh của CSTT đối với TTCKvà tâm lý NĐT là rất lớn. Tác động của CSTT có thể còn mạnh hơn do liên quanđến mức tăng trưởng tín dụng nói chung và dòng tín dụng chảy vào TTCK nóiriêng, vì CSTT của NHNN Việt Nam còn tác động trực tiếp lên điều kiện chặt chẽhoặc dễ dãi trong hoạt động cho vay của NHTM.

Xem thêm: Tìm Hiểu Về Cổ Tức Và Cách Nhận Cổ Tức Chứng Khoán, Ấm Ức Với Cổ Tức Bằng Cổ Phiếu

Năm 2010 được dự báo có tốc độ tăng trưởng kinh tế6,5%, chỉ tiêu lạm phát khoảng 7%, tổng phương tiện thanh toán cũng như tăngtrưởng tín dụng ở mức khoảng 25%, thâm hụt NSNN khoảng 6,2% GDP… Đây là nhữngcon số đưa ra rất tích cực nhưng vấn đề đặt ra là các chỉ tiêu này có thực sựgiúp Chính phủ ổn định kinh tế vĩ mô, linh hoạt trong điều hành chính sách tàikhóa và CSTT, giúp nền kinh tế phục hồi bền vững, giúp nâng cao được sức cạnhtranh của nền kinh tế hay không?… Bên cạnh đó, để đạt được các chỉ tiêu này thìcác vấn đề lạm phát, tỷ giá, lãi suất, CSTT, chính sách tài khóa cần được xử lýnhư thế nào?

Một số yếu tố vĩ mô trong năm 2009 sẽ tiếp tục tác độngsang năm 2010 như chính sách kích thích kinh tế, tăng trưởng tín dụng cao, cungtiền ra lưu thông lớn, nhập siêu cao và đặc biệt là sự kỳ vọng vào sự mất giácủa đồng Việt Nam được thể hiện qua giá vàng, tỷ giá hối đoái, giá vốn (lãisuất) và giá cả một số mặt hàng. Hơn nữa nguy cơ tái lạm phát cao vẫn đang là vấnđề đáng lo ngại. Nhiều ý kiến cho rằng, giải pháp cho vấn đề này không chỉ đơnthuần là việc điều hành CSTT của NHNN bởi CSTT của Việt Nam hiện chỉgóp phần kiểm soát lạm phát chứ không thể giải quyết triệt để bài toán lạmphát. Vì vậy, để chủ động kiểm soát được lạm phát ở mức độ cho phép, chúng tacần phải huy động tổng lực của nhiều bộ/ngành và các thành phần kinh tế. Chỉkhi thị trường tiền tệ liên ngân hàng được ổn định, NHNN mới có điều kiện điềuhành CSTT linh hoạt theo tín hiệu thị trường.

CSTT cần phối hợp với chính sách tài khoá trong việc thúc đẩy sựphát triển của TTCK Việt Nam. Mục tiêu cuối cùng của CSTT là ổn định tiền tệ,còn mục tiêu của CSTK là đạt đến một chính sách ngân sách minh bạch, tạo sự ổnđịnh sản lượng, cải thiện phân bổ nguồn lực và kiểm soát ảnh hưởng của phânphối. Hai chính sách này có mối quan hệ mật thiết, ràng buộc lẫn nhau và tácđông đến nền kinh tế và hệ thống thị trường tài chính. Nếu quản lý tài khoá yếukém, sẽ tăng kỳ vọng lạm phát, có thể làm tăng lãi suất và cung tiền, điều nàyảnh hưởng lớn đến việc vay nợ của Chính phủ trên TTCK. Ngược lại, lạm phát vàlãi suất tăng cao, không những làm giảm nguồn thu cho Chính phủ mà còn làm chogiá chứng khoán biến động mạnh theo xu hướng giảm, làm nản lòng nhà đầu tư trênthị trường do tính thanh khoản của thị trường bị ảnh hưởng. Vì vậy, rất cần mộtsự nhận thức đúng và đầy đủ về mối quan hệ giữa hai chính sách, nhằm tăng cườngsự kết nối và giảm xung đột giữa chúng để cùng đạt được mục tiêu đặt ra.

Chính phủ cũng như một số bộ, ngành (Bộ Tài chính, BộKH&ĐT) cần lưu tấm đến chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế, không để xảyra tình trạng GDP tăng và tỷ lệ lạm phát rất cao như năm 2007 (bởi tăng trưởngtrong trường hợp này cũng không còn nhiều ý nghĩa). Vì vậy, trong việc điềuhành chính sách tài khóa, trong việc đẩy mạnh đầu tư công, hiệu quả của đồngvốn phải được đặt lên hàng đầu. Ngay từ năm 2010, chúng ta cần đưa ra lộ trìnhđể giảm bội chi ngân sách, để có thể cân bằng được thu chi ngân sách đến năm2015. Mặt khác, một trong những nguyên nhân dẫn đến lạm phát là niềm tin củangười dân vào các chính sách vĩ mô. Nếu người dân còn quan ngại về những bất ổntrong chính sách, luôn kỳ vọng vào sự mất giá của đồng tiền thì lạm phát cũngbị đẩy lên cao. Vì thế, việc khắc phục vấn đề này cần một sự nhất quán và minhbạch trong điều hành chính sách, tránh tạo ra các cú sốc, đồng thời thông tinkịp thời việc thay đổi chính sách đến người dân, chú ý đến định hướng dư luận xãhội, ngăn chặn kịp thời các tin đồn trên thị trường tiền tệ. Đây là những việclàm rất cần thiết để tạo niềm tin cho từng DN và cho các tầng lớp dân cư trongđiều kiện hiện nay

Trả lời

Back to top button