thị trường cổ phiếu quốc tế

Số trang: 23 | Loại file: DOCX | Lượt xem: 4207 | Lượt tải: 0

Đang xem: Thị trường cổ phiếu quốc tế

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TPHCM KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ BÀI TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH QUỐC TẾ ĐỀ TÀI: THỊ TRƯỜNG CỔ PHIẾU QUỐC TẾ GVHD: ThS. Nguyễn Thị Hồng Vinh TPHCM, tháng 9 năm 2016 MỤC LỤC CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG CỔ PHIẾU QUỐC TẾ………………………………………….4 1.1. Khái niệm và đặc điểm của thị trường cổ phiếu quốc tế………………………………………………..4 1.2. Tính thanh khoản của thị trường………………………………………………………………………………..5 1.2.1. Quy mô thị trường…………………………………………………………………………………………….5 1.2.2. Khối lượng giao dịch…………………………………………………………………………………………6 1.2.3. Biên độ giá mua giá bán…………………………………………………………………………………….6 CHƯƠNG 2. CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG CỔ PHIẾU QUỐC TẾ…………………………………………………6 2.1. Thị trường sơ cấp (Primary market)……………………………………………………………………………6 2.2. Thị trường thứ cấp……………………………………………………………………………………………………7 2.2.1. Chức năng thị trường thứ cấp……………………………………………………………………………..7 2.2.2. Phân loại thị trường thứ cấp………………………………………………………………………………..7 2.3. Xu hướng phát triển của thị trường cổ phiếu quốc tế…………………………………………………….8 CHƯƠNG 3. THỰC TIỄN GIAO DỊCH TRÊN THỊ TRƯỜNG CỔ PHIẾU QUỐC TẾ……………….10 3.1. Phát hành cổ phiếu ở nước ngoài……………………………………………………………………………..10 3.2. Niêm yết chéo……………………………………………………………………………………………………….12 3.2.1. Khái niệm niêm yết chéo………………………………………………………………………………….12 3.2.2. Lợi ích và chi phí của niêm yết chéo………………………………………………………………….12 3.3. Chứng chỉ lưu ký……………………………………………………………………………………………………13 3.3.1. Khái niệm……………………………………………………………………………………………………….13 3.3.2. Phân loại………………………………………………………………………………………………………..13 3.3.4. Cơ chế phát hành và hủy chứng chỉ lưu ký………………………………………………………….16 CHƯƠNG 4. QUỸ HOÁN ĐỔI DANH MỤC (EXCHANGE TRADED FUND – ETF)……………….17 4.1. Khái niệm……………………………………………………………………………………………………………..17 4.2. Sự hình thành và phát triển của Quỹ ETF………………………………………………………………….17 4.3. Phân loại Quỹ ETF…………………………………………………………………………………………………17 4.4. Cơ chế hoạt động của Quỹ hoán đổi danh mục…………………………………………………………..18 4.4.1. Thị trường sơ cấp (góp vốn và thoái vốn)…………………………………………………………..18 4.4.2. Thị trường thứ cấp…………………………………………………………………………………………..19 4.5. Một số ưu điểm và rủi ro của Quỹ ETF…………………………………………………………………….20 4.5.1. Ưu điểm của Quỹ ETF……………………………………………………………………………………..20 4.5.2. Một số rủi ro của Quỹ ETF……………………………………………………………………………….20 CHƯƠNG 5. NHỮNG ƯU THẾ VÀ HẠN CHẾ CỦA VIỆC PHÁT HÀNH CỔ PHIẾU QUỐC TẾ……….21 5.1. Ưu thế khi tham gia thị trường cổ phiếu quốc tế…………………………………………………………21 5.2. Những hạn chế khi tham gia thị trường cổ phiếu quốc tế…………………………………………….22 CHỦ ĐỀ: THỊ TRƯỜNG CỔ PHIẾU QUỐC TẾ CHƯƠNG 1. 1.1. KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG CỔ PHIẾU QUỐC TẾ Khái niệm và đặc điểm của thị trường cổ phiếu quốc tế Thị trường cổ phiếu quốc tế là nơi diễn ra việc huy động động vốn quốc tế bằng cách phát hành cổ phiếu và việc chuyển giao quyền sở hữu cổ phiếu giữa các nhà đầu tư quốc tế. Đây là một bộ phận của thị trường tài chính quốc tế, có vai trò quan trọng trong việc luân chuyển vốn xuyên biên từ nơi thừa sang nơi thiếu, đồng thời tạo điều kiện cho các nhà đầu tư quốc tế đa dạng hóa danh mục. Một thị trường cổ phiếu được đánh giá tốt là một thị trường luôn có thông tin đầy đủ và dễ tiếp cận, thanh khoản, có chi phí giao dịch thấp và hiệu quả về mặt thông tin. Nhìn chung thị trường cổ phiếu quốc tế có mức độ thanh khoản cao. Đặc điểm: – Thị trường cổ phiếu quốc tế có tính thanh – khoản cao. Ngày càng có nhiều cổ phiếu được đăng kí trên nhiều Sở giao – dịch. Thị trường quốc gia càng ít tập trung vào một số loại cổ phiếu thì càng có nhiều cơ hội cho các nhà đầu tư quốc tế để đa dạng hóa danh mục đầu tư quốc tế của mình. Trang 1 / 24 1.2. Tính thanh khoản của thị trường Thanh khoản là khả năng chuyển đổi thành tiền mặt của một tài sản không phải tiền mà không làm ảnh hưởng tới giá thị trường của nó. Thị trường thanh khoản là thị trường cho phép các tài sản được mua bán dễ dàng mà không ảnh hưởng đến giá cả của tài sản. 1.2.1. Quy mô thị trường Là một trong những chỉ số dùng để đánh giá, so sánh độ lớn thị trường cổ phiếu các nước là giá trị vốn hóa của thị trường (market capitalization). Giá trị vốn hóa của thị trường là tiêu chí đơn giản nhất để son sánh các thị trường cổ phiếu với nhau. Tính đến cuối năm 2013 Mỹ vẫn là thị trường cổ phiếu lớn nhất thế giới với giá trị vốn hóa đạt hơn 24 nghìn tỉ USD. Nhật Bản đứng vị trí thứ hai với hơn 4500 tỉ USD, Anh xếp hạng thứ ba với hơn 4400 tỉ USD. Nếu xét theo sở giao dịch thì Sở giao dịch chứng khoán New York (New York Stock Exchange hay NYSE) và NASDAQ (National Association of Securities Dealers Automatic Quotations) của Mỹ giữ vai trò thống trị trên thị trường cổ phiếu quốc tế, theo sau là Sở giao dịch chứng khoán Tokyo (Tokyo Stock Exchange hay TSE) của Nhật và Sở giao dịch chứng khoán Luân Đôn (London Stock Exchangehay LSE) của Anh. Tuy nhiên, giá trị vốn hóa chưa vẽ được bức tranh tổng quát về thị trường cổ phiếu quốc tế. Về bản chất, chỉ số này phản ánh mức độ đóng góp của thị trường cổ phiếu đối với nền kinh tế quốc gia. Tùy thuộc vào đặc điểm và cấu trúc của hệ thống tài chính từng nước mà chỉ số này có giá trị khác nhau. Do vậy, chỉ số này cũng chưa phản ánh chính xác và toàn diện về tính thanh khoản cũng như trình độ phát triển của thị trường cổ phiếu. 1.2.2. Khối lượng giao dịch Một vài chỉ số khác để đo lường thanh khoản thị trường là khối lượng giao dịch, giá trị cổ phiếu được mua bán, chỉ số vòng quay cổ phiếu, số ngày có phát sinh giao dịch. Cụ thể: Trang 2 / 24 – Khối lượng giao dịch: đơn thuần là tổng số lượng cổ phiếu được mua và bán trong một khoản thời gian nhất định. Khối lượng giao dịch có thể biến động khá – lớn giữa các ngày, các tháng, các năm. Giá trị giao dịch: các sở giao dịch chứng khoán lớn thường là những nơi có doanh – số giao dịch lớn và tính thanh khoản của các thị trường này tương đối đồng nhất. Chỉ số vòng quay cổ phiếu: chỉ số vòng quay càng cao thể hiện thị trường càng thanh khoản hay giao dịch được thực hiện dễ dàng. Tuy nhiên nó có thể phản ánh – không hoàn toàn tình trạng thanh khoản của thị trường. Số ngày có phát sinh giao dịch: khắc phục được nhược điểm của chỉ số vòng quay cổ phiếu. 1.2.3. Biên độ giá mua giá bán Biên độ giá mua – giá bán (bid-ask spread) là chênh lệch giữa giá mua vào và giá bán ra cổ phiếu trên thị trường. Những cổ phiếu này được giao dịch thường xuyên, liên tục thì chênh lệch giá mua – giá bán thường thấp hơn những cổ phiếu có tần suất giao dịch thấp. CHƯƠNG 2. 2.1. CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG CỔ PHIẾU QUỐC TẾ. Thị trường sơ cấp (Primary market) Các doanh nghiệp phát hành cổ phiếu trên thị trường sơ cấp nhằm mục đích huy động vốn. Việc phát hành này có thể là lần đầu hoặc không phải lần đầu của doanh nghiệp. Trong trường hợp nhà đầu tư mà doanh nghiệp hướng đến không giới hạn thì việc phát hành này được gọi là phát hành cổ phiếu ra công chúng ( Public offrring). Còn nếu doanh nghiệp chỉ tập chung vào một số nhà đầu tư giới hạn thì được gọi là phát hành cổ phiếu riêng lẻ ( Private placement). Xu hướng hội nhập thị trường tài chính quốc tế ngày càng cao, việc giao thương giữa các quốc gia ngày càng dễ dàng hơn, các hàng rào thuế quan dần được xóa bỏ đối với một số quốc gia thì các doanh nghiệp sẽ tính đến việc phát hành cổ phiếu và niêm yết trên thị trường nước ngoài. Bởi việc phát hành cổ phiếu trên thị trường nước ngoài Trang 3 / 24 sẽ có thể mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp, tiếp cận được với thị trường quốc tế, tăng tính thanh khoản cao cho cổ phiếu… Để phát hành cổ phiếu ở thị trường nước ngoài thì cần phải có sự hỗ trợ của Ngân hàng đầu tư. 2.2. Thị trường thứ cấp 2.2.1. Chức năng thị trường thứ cấp Thị trường thứ cấp trên thế giới thực hiện hai chức năng chính đó là cung cấp thanh khoản và định giá cổ phiếu. Thị trường thứ cấp sẽ cho phép các nhà đầu tư bán số cổ phiếu họ đang sở hữu khi họ không còn muốn nắm giữ số cổ phiếu hoặc mua vào số cổ phiếu của một doanh nghiệp khác khi họ thấy có tiềm năng. Việc thị trường thứ cấp thanh khoản kém thì việc phát hành cổ phiếu trên thị trường sơ cấp của các doanh nghiệp sẽ khó khăn do các cổ phiếu này kém hấp dẫn với các nhà đầu tư. 2.2.2. Phân loại thị trường thứ cấp  Theo mức độ liên tục của giao dịch, thị trường thứ cấp có thể được phân thành thị trường giao dịch định kỳ và thị trường giao dịch liên tục. – Trên thị trường giao dịch định kỳ thì việc mua bán cổ phiếu chỉ xảy ra vào một số thời điểm nhất định. – Trên thị trường giao dịch liên tục, các lệnh mua, lệnh bán được thực hiện nay sau khi có giao dịch đối ứng, do đó sẽ giảm được chi phí chờ đợi so với giao dịch định kỳ  Theo mức độ phụ thuộc vào nhà tạo thị trường, thị trường thứ cấp có thể cấu trúc thành: – Thị trường các nhà buôn chứng khoán: Các nhà tạo thị trường yết giá mua và bán các cổ phiếu nhất định và sẵn sàng thường xuyên mua bán những cổ phiếu đó bằng tài khoản của chính họ – Thị trường đấu giá: Nhà đầu tư gửi lệnh bán cho nhà môi giới của mình, từ đó, các nhà môi giới sẽ gửi lệnh lên sàn giao dịch và các lệnh này được so khớp với nhau. Trang 4 / 24  Theo hình thức tổ chức của thị trường, thị trường thứ cấp được phân thành: Thị trường tập trung ( exchange market) : + Chỉ có những cổ phiếu đáp ứng được những tiêu chuẩn nhất định mới được niêm yết và giao dịch. + Sở giao dịch chứng khoán tập trung các lệnh mua bán và công khai giá cho tất cả thành viên thị trường. + Bên cạnh việc thiết lập các quy tắc giám sát giao dịch và lưu chuyển thông tin về giao dịch, họ được kết nối với các phương tiện thanh toán bù trư để thực hiện công việc hậu giao dịch. – Thị trường phi tập trung (over the counter hay OTC market ): Thị trường OTC không có một “ nơi” giao dịch cụ thể, thị trường này được tổ chức dưới hình thức một mạng lưới quan hệ giữa các nhà kinh doanh và ít chính qui hơn so với hình thức sở giao dịch. 2.3. Xu hướng phát triển của thị trường cổ phiếu quốc tế Khi sự bùng nổ về công nghệ thông tin trên toàn thế giới thì việc bắt gặp một sở giao dịch theo truyền thống gần như là không còn nữa, thay vào đó là hệ thống giao dịch điện tử. Hệ thống giao dịch điện tử đã có mặt hầu hết trên các quốc gia trên thế giới. Bắt đầu từ việc thành lập một hệ thống thị trường multiple chứng khoán quốc gia năm 1975. Từ đó, “các hệ thống thông tin điện tử” đã phát triển nhanh chóng. Ngày nay, sự sáp nhập và liên kết giữa các thị trường cũng diễn ra một các mạnh mẽ. Khởi nguồn từ việc hợp nhất giữa OM và Sở giao dịch chứng khoán Stockholm vào năm 1998. Ở Việt Nam, trong năm 2015 Bộ Tài chính đã trình Thủ tướng Chính phủ đề án sáp nhập 2 Sở giao dịch HOSE và HNX, dự kiện sở giao dịch sau khi đã sáp nhập sẽ được đặt tại TPHCM. Theo chuyên gia Anu Aiyengar của JP Morgan Chase, nhiều công ty hiện nay ưa thích các thương vụ M&A hơn là phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO). Trang 5 / 24 Số liệu của Thomson Reuters cho thấy doanh thu từ phí dịch vụ tư vấn M&A đóng góp 29% trong tổng doanh thu từ phí dịch vụ của các ngân hàng đầu tư thương mại toàn cầu trong quý III, mức đóng góp lớn nhất trong 4 năm qua. Tính trong 9 tháng đầu năm 2015, tổng giá trị các thương vụ M&A đã tăng 32% so với cùng kỳ năm trước lên 3,17 nghìn tỷ USD. Trong đó, tổng giá trị các thương vụ M&A trong III/2015 đạt quý hơn 1 nghìn tỷ USD.

Xem thêm: trắc nghiệm thị trường chứng khoán theo chương

Xem thêm: mã chứng khoán facebook

Tuy nhiên, không có lĩnh vực kinh tế nào chiếm tỷ trọng hơn 15% trong tổng số 3,17 nghìn tỷ USD. Mặc dù tổng giá trị các thương vụ M&A quý III đã suy giảm so với quý II/2015 nhưng đây là lần đầu tiên trong 15 năm qua tổng giá trị các vụ M&A vượt quá 1 nghìn tỷ USD trong 2 quý liên tiếp. CHƯƠNG 3. THỰC TIỄN GIAO DỊCH TRÊN THỊ TRƯỜNG CỔ PHIẾU QUỐC TẾ 3.1. Phát hành cổ phiếu ở nước ngoài Theo số liệu thống kê của WEF, năm 2013 có 97 công ty tiến hành IOP ở nước ngoài, huy động được gần 61 tỷ USD, chiếm 37% giá trị IOP toàn cầu. Tính đến năm 2015, IPO và dòng vốn đầu tư: Tổng số phiếu mới niêm yết trong năm 2015 (bao gồm cả các đợt IPO) đăng ký tăng 9.6% tổng thể, mặc dù đầu tư chảy từ đợt IPO một mình giảm gần 17% so với năm 2014 (202 tỷ USD vào năm 2015 so Trang 6 / 24 với 242 tỷ trong năm 2014). Dòng vốn đầu tư khác cho các công ty đã niêm yết, tuy nhiên, đã tăng hơn 41% tại 914.000.000.000 USD trong năm 2015 so với năm 2014 Theo số liệu thống kê đầy đủ năm WFE của tổng giá trị giao dịch cổ phiếu đã tăng 41% trong năm 2015 và số lượng giao dịch 55% từ năm 2014,. Sự gia tăng được thúc đẩy chủ yếu bởi hoạt động kinh doanh trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, đặc biệt là Trung Quốc đại lục. Liên đoàn Thế giới của Sở giao dịch đã được công bố ngày nay nổi bật Báo cáo thị trường của nó đối với học kỳ đầu tiên của năm 2015 Mặc dù có sự biến động đáng kể đã chứng kiến trong năm, các thị trường châu ÁThái Bình Dương vẫn quản lý để kết thúc năm tăng 10% về giá trị vốn hóa thị trường so với cuối năm 2014. Các điểm nổi bật chính của năm 2015 như sau: – Các giá trị của giao dịch cổ phiếu đã tăng 41% trên toàn thế giới lên 114 nghìn tỷ USD trong năm 2015 so với 81 nghìn tỷ USD trong năm 2014. Hầu hết sự gia tăng là do sự gia tăng trong hoạt động kinh doanh trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương nơi giá trị của giao dịch cổ phiếu tăng 127% những gì thấy được trong năm 2014. tổng giá trị giao dịch cổ phiếu châu Á-Thái Bình Dương vào năm 2015 gần 54 nghìn tỷ USD, vượt qua khỏi các khu vực khác về tổng giá trị giao dịch cổ phiếu. Tổng số ngành nghề trong năm 2015 tăng 55% từ năm 2014, kết thúc năm ở 23,7 tỉ (tăng từ 15,3 tỷ USD trong năm 2014). Một lần nữa, châu Á-Thái Bình Dương đã được chịu trách nhiệm cho hầu hết các tăng. Khu vực này đã nhìn thấy một sự gia tăng 94% trong số các ngành nghề từ năm 2014, từ chỉ hơn 800000000015500000000 các ngành nghề trong năm 2015. Vốn hóa thị trường toàn cầu giảm 1,3% trong năm 2015 so với cuối năm 2014, đạt 67 nghìn tỷ USD so với 68 tỷ USD vào cuối năm 2014. Mỹ dẫn đầu vào mùa thu này (giảm gần 8% vào cuối năm 2015), tiếp theo bởi EMEA, đã giảm hơn 3%. Trang 7 / 24 Châu Á-Thái Bình Dương vốn hóa thị trường đã kết thúc năm ở mức 23 nghìn tỷ USD, tăng từ 21 nghìn tỷ USD vào cuối năm 2015. H1 2015 thị trường nổi bật báo cáo -WFE của đã chỉ ra rằng thị trường Trung Quốc chiếm một tỷ lệ lớn của sự gia tăng trong năm 2015 hoạt động kinh doanh. Giá trị giao dịch cổ phiếu tại Trung Quốc tăng 218% từ 13,5 tỷ USD lên 43,0 nghìn tỷ USD và số lượng giao dịch đã tăng 186% vào năm 2014 để đạt được 10,1 tỷ vào cuối năm 2015. – IPO và dòng vốn đầu tư: Tổng số phiếu mới niêm yết trong năm 2015 (bao gồm cả các đợt IPO) đăng ký tăng 9.6% tổng thể, mặc dù đầu tư chảy từ đợt IPO một mình giảm gần 17% so với năm 2014 (202 tỷ USD vào năm 2015 so với 242 tỷ trong năm 2014) . Dòng vốn đầu tư khác cho các công ty đã niêm yết, tuy nhiên, đã tăng hơn 41% tại 914.000.000.000 USD trong năm 2015 so với năm 2014 Phát hành cổ phiếu nước ngoài tại Mỹ Việc phát hành cổ phiếu nước ngoài tại Mỹ còn được gọi là Yankee stock offerings. Để phát hành được cổ phiếu tại Mỹ, các công ty nước ngoài phải đáp ứng những tiêu chuẩn nghiêm ngặt trong việc công bố thông tin tình hình tài chính của họ. Tuy nhiên, khi đạt tiêu chuẩn theo quy định của Ủy ban chứng khoán Mỹ, thông qua việc phát hành trực tiếp cho nhà đầu tư tổ chức, họ sẽ được miễn trừ khỏi một số quy định, yêu cầu về kế toán và công bố thông tin bớt khắt khe hơn. 3.2. Niêm yết chéo 3.2.1. Khái niệm niêm yết chéo Niêm yết chéo là việc cổ phiếu của một công ty khi đã được niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán nội địa, đồng thời lại được niêm yết thêm ở một hay nhiều sở giao dịch chứng khoán nước ngoài. 3.2.2. Lợi ích và chi phí của niêm yết chéo Lợi ích: Trang 8 / 24 – Cơ sở nhà đầu tư và khách hàng tăng. Khi đồng thời niêm yết cổ phiếu trên cả thị trường nội địa và cả thị trường nước ngoài thì công ty sẽ tiếp cận được nhiều nhà đầu tư và các khách hàng hơn. Việc tiếp cận như vậy sẽ giúp cho những khách hàng của công ty đó có thể sẽ là những nhà đầu tư của họ sau này. – Cải thiện tính thanh khoản của cổ phiếu: Niêm yết chéo giúp cổ phiếu công ty được giao dịch trên nhiều thị trường khác nhau, điều đó đồng nghĩa với việc tính thanh khoản của cổ phiếu sẽ cao hơn. – Tăng cường tiếp cận tị trường vốn quốc tế: Việc niêm yết cổ phiếu tại hai hay nhiều quốc gia giúp cho cổ phiếu được tiếp cận với nhiều thị trường vốn mới hơn, tạo điều kiện để công ty phát hành cổ phiếu và trái phiếu sau này. – Giảm bớt khả năng bị thâu tóm: Khi cổ phiếu được giao dịch ở nhiều nơi hơn thì số lượng cổ đông nắm giữ cổ phiếu cũng nhiều hơn, khi đó cổ phiếu sẽ khó bị mua lại hơn khi cổ phiếu chỉ tập chung vào giao dịch tại một thị trường. – Cải thiện được công tác quản trị công ty: Khi tham gia vào một thị trường nước ngoài thì buộc công ty đó phải tuân thủ quy định của đầu tư của quốc gia sở tại, việc này giúp hạn chế khả năng những người điều hành công ty lợi dụng để giao dịch nội gián và tăng chi phí hoạt động của công ty. – Giảm chi phí vốn Chi phí để niêm yết chéo: – Chi phí phát hành: Khi phát hành cổ phiếu ở nước ngoài sẽ có phát sinh một số chi phí có liên quan như : hoàn chỉnh bản cáo bạch, quan hệ công chúng, chi phí tư vấn … – Chi phí tuần hoàn: Đây là chi phí của tài khoản kế toán và báo cáo tài chính, chi phí báo cáo định kỳ … – Gia tăng áp lực đối với nhà quản trị: Như đã nói trên thì việc phát hành cổ phiếu ở nước ngoài phải tuân thủ nghiêm ngặt những quy định của quốc gia đó, vậy nên áp lực đối với nhà quản trị sẽ đặt ra cáo hơn. Trang 9 / 24 3.3. Chứng chỉ lưu ký 3.3.1. Khái niệm Chứng chỉ lưu ký (DR) là những tờ biên nhận về một số lượng chứng khoán (cổ phiếu cơ sở) do một công ty nước ngoài phát hành nhưng được niêm yết và giao dịch trong nước và được định giá bằng loại tiền tệ tại nơi mà nó đươc giao dịch. 3.3.2. Phân loại Tùy thuộc vào nơi niêm yết và giao dịch mà các DR có những tên gọi khác nhau, bao gồm: – Chứng chỉ lưu ký Mỹ (ADR): Là loại chứng chỉ lưu ký phổ biến nhất, cho phép công ty nước ngoài. ADR được chia làm hai loại: Loại được đảm bảo và loại không được đảm bảo.  Loại được đảm bảo: được tạo ra bởi một ngân hàng được lưu ký theo yêu cầu của công ty phát hành chứng khoán cơ sở ở nước ngoài.  Loại không được đảm bảo: được tạo ra bởi một mình tổ chức lưu ký mà không có sự hợp tác hay tham gia trực tiếp của công ty phát hành chứng khoán cơ sở ở nước ngoài. – Chứng chỉ lưu ký toàn cầu (GDR): Là một dạng giấy tờ có giá do một ngân hàng lưu ký ban hành, chứng nhận quyền sở hữu đối với các cổ phiếu phổ thông cơ sở ở thị trường nước ngoài, theo đó, chứng chỉ lưu ký toàn cầu được phát hành tại thị trường quốc tế một cách tương ứng với các cổ phiếu tại thị trường nội địa. MỘT SỐ CHỨNG CHỈ LƯU KÝ Tên DR Ký hiệu CUSIP SEDOL Trao đổi, giao dịch Tỉ lệ khu vực 21VIANET GROUP INC VNET 90138A103 B3Q0VS 9 NASDA Q Công nghệ Trang 10 / 24 1: 6 Tên DR Ký hiệu Trao đổi, giao dịch Tỉ lệ CUSIP SEDOL 361 ĐỘ TNHH TSIOY QUỐC TẾ 885577106 B83RHF 7 OTC 1: 50 Hàng tiêu dùng 3I PLC 88579N105 B3DZ1X 2 OTC 1: 0.5 Tài chính GROUP TGOPY khu vực 4IMPRINT GROUP PLC FOREY 35104M102 2705637 OTC 1: 2 Dịch vụ tiêu dùng 500.COM LTD WBAI 33829R100 BGK07D 3 NYSE 1: 10 Công nghệ 51JOB INC JOBS 316827104 B02TT74 NASDA Q 1: 1 Công nghiệp 58.COM INC WUBA 31680Q104 BG3GS9 1 NYSE 1: 2 Dịch vụ tiêu dùng 88 ENERGY TNGRY LTD 282546100 BWXBN M6 OTC 1: 10 Dâu khi AG Barr PLC AGBAY 001079102 B7KZYZ 6 OTC 1: 2 Hàng tiêu dùng A2A SPA AEMMY 002482107 B3KXV8 4 OTC 1: 5 tiện ích Aalberts INDUSTRIES NV AAIDY 00253T100 B98D0Q 9 OTC 1: 0.5 Công nghiệp AAREAL BANK AG AAALY 00254K108 B6TQY9 7 OTC 1: 1 Tài chính AARHUSKAR LSHAMN AB AARHY 00254N102 BKZQ2V OTC 7 1: 0,25 Hàng tiêu dùng Công ty TNHH ABB ABB 000375204 2748472 NYSE 1: 1 Công nghiệp ABCAM PLC 000380105 B52H917 OTC 1: 1 Chăm sóc sức khỏe ABCZY Trang 11 / 24 Tên DR Ký hiệu Trao đổi, giao dịch Tỉ lệ khu vực CUSIP SEDOL PLC ABDNY ABERDEEN TÀI SẢN QUẢN LÝ 00300A104 BCMGC 36 OTC 1: 2 Tài chính ABERTIS INFRAESTRU CTURAS SA 003381100 B3KKGP 7 OTC 1: 0.5 Công nghiệp ABRTY (Nguồn : https://www.adr.com/Investors/Markets) 3.3.3. Cơ chế phát hành và hủy chứng chỉ lưu ký Do ADR là hình thức phổ biến nhất của DR nên cơ chế phát hành và hủy ADR được dùng làm minh họa cho cơ chế phát hành và hủy DR nói chung. Khi một nhà đầu tư Mỹ muốn mua ADR, nhà đầu tư sẽ liên lạc với nhà môi giới của mình. Để đáp ứng nhu cầu, các nhà môi giới này có thể mua lại những ADR đã sẵn có tại thị trường MỸ hoặc mua cổ phiếu cơ sở tuwg thị trường nội địa của công ty phát hành rồi yêu cầu ngân hàng lưu ký phát hành các ADR dựa trên số cổ phiếu cơ sở đó. Để tạo ra ADR mới, các cổ phiếu cơ sở được lưu ký tại một ngân hàng giám hộ ở một quốc gia công ty phát hành. Sau đó ngân hàng lưu ký tại Mỹ sẽ phát hành các ADR đại diện cho số cổ phiếu khi đã có xác nhận của ngân hàng giám hộ. Quy trình phát hành và hủy ADR Trang 12 / 24 (Nguồn: https://www.adr.com/Content/Documents/DR-Mechanics-FlowDiagram.pdf) CHƯƠNG 4. QUỸ HOÁN ĐỔI DANH MỤC (EXCHANGE TRADED FUND – ETF) 4.1. Khái niệm Quỹ hoán đổi danh mục hay ETF là một hình thức quỹ đầu tư thụ động mô phỏng theo một chỉ số cụ thể. Danh mục của ETF gồm một rỏ chứng khoán có cơ cấu như cơ cấu của một chỉ số mà nó mô phỏng Một cách dễ hiểu đây là một quỹ do các nhà đầu tư góp vốn. Toàn bộ số tiền do các nhà đầu tư góp vốn sẽ được trải đều ra mua một loạt các cổ phiếu của một chỉ số nào đó như S&P 500 hoặc một mã cổ phiếu đại diện cho một loại hàng hóa nào đó. Vì là một quỹ đầu tư nên chính quỹ này cấp các chứng chỉ sở hữu cho các nhà đầu tư và những chứng chỉ này cũng được niêm yết tại thị trường chứng khoán. Trang 13 / 24 4.2. Sự hình thành và phát triển của Quỹ ETF Quỹ ETF đầu tiên trên thế giới ra đời tại Canada vào tháng 3/1990 với tên gọi Toronto Index Participantion Shares (TIPS) Phát triển mạnh tại Mỹ từ năm 1993. Đến năm 2013 đã có gần 1.500 Quỹ ETF đăng ký hoạt động với SEC (Cơ quan liên bang thực thi luật lệ chứng khoán của Mỹ) và nhiều tổ chức khác đang chờ cấp phép. Hiện tại tại Mỹ tổng số tài sản ETF quản lý khoảng 1.300 tỷ USD với tốc độ tài sản ngày càng tăng và vượt xa các Quỹ tương hỗ truyền thống. Đến hết Quý II/2014 trên toàn cầu hiện có hơn 5.000 Quỹ ETF quản lý khoảng 7.000 danh mục, đầu tư vào khoảng 150 nước với tổng tài sản khoảng 2.500 tỷ USD tương đương 1/6 GDP của nước Mỹ và được giao dịch tại 50 Sở giao dịch. 4.3. Phân loại Quỹ ETF  Theo kỹ thuật mô phỏng chỉ số cơ sở của một ETF, bao gồm: Mô phỏng dựa vào thị trường giao ngay: việc mô phỏng được thực hiện chủ yếu bằng cách mua toàn bộ chứng khoán theo cơ cấu của chỉ số cơ sở (gọi là mô phỏng hoàn toàn). Trong trường hợp không thể mua toàn bộ chứng khoán cơ sở (có thể do chi phí quá cao hay do một số chứng khoán cơ sở không có tính thanh khoản), việc mô phỏng có thể được thực hiện bằng cách lấy mẫu hoặc tối ưu hóa để nắm giữ một phần danh mục chứng khoán cơ sở sao cho vẫn đạt được mục tiêu tối thiểu hóa sai số mô phỏng của ETF. Mô phỏng dựa vào giao dịch hoán đổi: một hợp đồng hoán đổi sẽ được thực hiện giữa quỹ ETF và một đối tác (thường là một ngân hàng đầu tư), theo đó, quỹ chấp nhận trả cho đối tác mức sinh lợi của rổ chứng khoán mà quỹ đang nắm giữ và nhận lại từ phía đối tác mức sinh lợi của chỉ số cơ sở.  Theo hình thức mô phỏng của một ETF, bao gồm: Do mục tiêu chính của một ETF là theo sát biểu hiện của một chỉ số nào đó, nên bất kì chỉ số nào được tạo ra thì có thể có từng ấy loại ETF được tạo thành. Trang 14 / 24 – ETF mô phỏng chỉ số cổ phiếu (ETF Equity): đây là loại hình ETF đầu tiên trên thị trường chứng khoán mô phỏng chỉ số cổ phiếu. ETF mô phỏng chỉ số công cụ nợ (ETF Fixed Income): mô phỏng chỉ số trái phiếu chính phủ. ETF mô phỏng chỉ số hàng hóa (ETF Commodity): mô phỏng chỉ số vàng, nông sản. ETF mô phỏng chỉ số tiền tệ (ETF Currency): mô phỏng chỉ số đồng tiền các nước phát triển. 4.4. Cơ chế hoạt động của Quỹ hoán đổi danh mục 4.4.1. Thị trường sơ cấp (góp vốn và thoái vốn) Khi muốn yêu cầu phát hành/mua lại chứng chỉ quỹ ETF với công ty quản lý quỹ, nhà đầu tư phải đặt lệnh tại thành viên lập quỹ. Thành viên lập quỹ gửi yêu cầu của nhà đầu tư cho CTQLQ. Việc kiểm tra, xác nhận lệnh giữa Công ty quản lý quỹ và thành viên lập quỹ được thực hiện trên hệ thống của Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam (VSD). Vào ngày thanh toán, trên tài khoản của nhà đầu tư, số danh mục chứng khoán cơ cấu được thay thế bằng số chứng chỉ quỹ ETF tương ứng (trường hợp yêu cầu phát hành) hoặc số chứng chỉ quỹ ETF được thay thế bằng số danh mục chứng khoán cơ cấu tương ứng (trường hợp yêu cầu mua lại). 4.4.2. Thị trường thứ cấp Việc mua, bán chứng chỉ quỹ ETF được thực hiện tương tự như đối với cổ phiếu, nhà đầu tư đặt lệnh tại công ty chứng khoán nơi mình mở tài khoản và được công ty chứng khoán gửi lệnh vào so khớp trên hệ thống của Sở Giao dịch Chứng khoán. Nhà đầu tư theo dõi diễn biến giao dịch chứng chỉ quỹ ETF thông qua bảng giá trực tuyến. Trang 15 / 24 Vào ngày thanh toán, nhà đầu tư phải thanh toán tiền cho giao dịch mua, và thanh toán chứng chỉ quỹ ETF cho giao dịch bán. 4.5. Một số ưu điểm và rủi ro của Quỹ ETF 4.5.1. Ưu điểm của Quỹ ETF  Giao dịch linh hoạt: Nhà đầu tư có thể mua bán trong giờ giao dịch như một cổ phiếu hay chứng chỉ quỹ thông thường, đặt lệnh trực tuyến, theo dõi giao dịch liên tục trong ngày…  Tính minh bạch cao: Danh mục đầu tư của Quỹ, NAV, số lượng ETF phát hành hoặc mua lại… được công bố hàng ngày.  Chi phí thấp, dễ tiếp cận. Có cơ chế giao dịch quỹ đóng và quỹ mở và cơ hội giao dịch Arbitrage; chênh lệch giữa giá thị trường và NAV thấp  Đa dạng hóa danh mục đầu tư và là công cụ phòng ngừa rủi ro: Do quỹ ETF được cơ cấu bởi một rổ cổ phiếu, việc nhà đầu tư nắm giữ chứng chỉ quỹ ETF sẽ gián tiếp nắm một rổ cổ phiếu có tỷ trọng giống như chỉ số mà quỹ ETF mô phỏng  Tăng tính hấp dẫn cho thị trường chứng khoán thứ cấp. Trang 16 / 24 4.5.2. Một số rủi ro của Quỹ ETF  Rủi ro thị trường: Rủi ro này phát sinh khi giá trị các tài sản của Quỹ có sự suy giảm từng phần hay toàn bộ trong một khoảng thời gian do tác động bởi nền kinh tế hoặc những yếu tố không lường trước được. Điều này sẽ tác động tới hiệu quả của các khoản đầu tư, từ đó ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của Quỹ.  Tính thanh khoản trên thị trường cơ sở. Điều này phát sinh rủi ro đối với nhà đầu tư muốn mua hoặc bán chứng chỉ Quỹ ETF ngay trên sàn giao dịch nhưng không thể thực hiện khi thanh khoản chứng chỉ quỹ thấp.  Rủi ro chênh lệch giá chứng chỉ quỹ và giá trị tài sản ròng. Nguyên nhân có thể là do sự biến đông của giá trị tài sản ròng của quỹ hoặc từ cung cầu chứng chỉ quỹ trên thị trường. Do đó, nhà đầu tư có thể bị thiệt hai nếu mua chứng chỉ quỹ tại thời điểm giá thị trường cao hơn NAV hoặc bán chứng chỉ quỹ tại thời điểm giá thị trường thấp hơn NAV.  Rủi ro tỷ giá đối với các quỹ ETF nước ngoài. Trong trường hợp quỹ ETF được niêm yết ở thị trường nước ngoài, còn rổ chứng khoán cơ cấu được niêm yết ở thị trường trong nước, nếu đồng nội tệ bị mất giá so với ngoại tệ, NAV cũng giảm theo và nhà đầu tư phải gánh chịu mức lỗ này.  Rủi ro pháp lý: Mỗi quỹ ETF sẽ chịu ràng buộc về pháp lý của các quốc gia mà tại đó nó niêm yết hay triển khai các hoạt động đầu tư. CHƯƠNG 5. NHỮNG ƯU THẾ VÀ HẠN CHẾ CỦA VIỆC PHÁT HÀNH CỔ PHIẾU QUỐC TẾ Khi các chủ doanh nghiệp muốn mở rộng và phát triển việc kinh doanh thì họ sẽ tiến hành việc phát hành cổ phiếu quốc tế. Là một công cụ huy động vốn thiết yếu, mỗi cổ phiếu là đại diện cho quyền sở hữu trong một công ty. Vì vậy việc phát hành cổ phiếu quốc tế có thể cung cấp những lợi ích đáng kể, bên cạnh đó, một vài bất lợi sẽ phát sinh từ việc phát hành cổ phiếu. Trang 17 / 24

Trả lời

Back to top button