Cổ phiếu

Dự Thảo Luật Doanh Nghiệp (Sửa Đổi): Quy Định Về Cổ Phiếu Thưởng

It looks like your browser does not have JavaScript enabled. Please turn on JavaScript and try again.

Đang xem: Quy định về cổ phiếu thưởng

*

*

Dự thảo Luật Doanh nghiệp (sửa đổi): Quy định về mua lại cổ phần cần tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động giao dịch cổ phiếu quỹ
Ở nhiều nước, pháp luật về doanh nghiệp đều có quy định cho phép công ty cổ phần (CTCP) được quyền mua lại cổ phiếu đã phát hành theo quyết định của công ty hoặc theo yêu cầu của cổ đông. Hoạt động này thường được gọi là mua cổ phiếu quỹ. Cổ phiếu sau khi đã mua vào được công ty bán trở lại trên thị trường gọi là bán cổ phiếu quỹ. Cả hai hoạt động mua và bán cổ phiếu nêu trên gọi là giao dịch cổ phiếu quỹ. Tại Việt Nam, Luật Doanh nghiệp năm 2005 với tư cách là một đạo luật chung điều chỉnh việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của các loại hình doanh nghiệp, trong đó có CTCP cũng đã có những quy định về trường hợp mua lại cổ phần theo quyết định của cổ đông (Điều 90) và theo quyết định của công ty (Điều 91). Bên cạnh đó, Luật này cũng quy định điều kiện thanh toán và xử lý các cổ phần mua lại (Điều 92).
Dự thảo lần 5 Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) hiện đang lấy ý kiến rộng rãi trong công chúng được kỳ vọng là sẽ tạo ra những bước đột phá mới trong việc hoàn thiện môi trường kinh doanh, phát huy quyền tự chủ trong kinh doanh của doanh nghiệp, thúc đẩy quản trị công ty hiệu quả, góp phần quan trọng vào thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội của đất nước, đã có khá nhiều quy định mới nhằm thay thế, bổ sung và sửa đổi các quy định chưa hoàn thiện, còn nhiều bất cập trong Luật Doanh nghiệp năm 2005. Tuy nhiên, theo chúng tôi, các quy định trong Dự thảo Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) lần này vẫn tiếp tục cần có sự phân tích, đánh giá một cách khoa học cả về mặt lý luận và thực tiễn để có những chỉnh sửa phù hợp với thực tế sinh động, nhu cầu phát triển của nền kinh tế và phù hợp với thông lệ quốc tế, trong đó, có các quy định liên quan đến hoạt động mua lại cổ phần của CTCP tại các Điều 133, 134 và 135 của Dự thảo. Chúng tôi sẽ làm rõ một số vấn đề lý luận liên quan đến giao dịch cổ phiếu quỹ trên thị trường chứng khoán (TTCK), phân tích một số điểm bất cập của các quy định vừa nêu trong Dự thảo để có những kiến nghị, đề xuất hoàn thiện.

*


Một là, cổ phiếu quỹ là cổ phiếu đã bán và được chính CTCP mua lại. Cổ phiếu đã bán “là cổ phiếu đã được nhà đầu tư thanh toán đầy đủ và những thông tin về người sở hữu được ghi đúng, ghi đủ vào sổ đăng ký cổ đông”<3>. Tại Khoản 2 Điều 115 của Dự thảo Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) cũng có quy định tương tự, theo đó, “Cổ phần đã bán là số cổ phần được quyền chào bán đã được các cổ đông thanh toán đủ cho công ty. Tại thời điểm đăng ký thành lập doanh nghiệp, cổ phần đã bán là tổng số cổ phần các loại đã được đăng ký mua”. Như vậy, có thể thấy, chủ thể tham gia mua cổ phiếu trong trường hợp này là chính CTCP đã bán chúng trước đây. Chủ thể bán là các nhà đầu tư sở hữu cổ phiếu của công ty. Để tránh trường hợp CTCP “ép giá” nhà đầu tư và lạm dụng việc mua lại cổ phiếu để gây thiệt hại cho cổ đông, pháp luật nhiều nước có quy định rất rõ về điều kiện, trình tự, thủ tục mua lại<4>.
Hai là, cổ phiếu quỹ không phải là một loại chứng khoán mới của CTCP. Về nguyên tắc, CTCP có thể mua cổ phiếu phổ thông hoặc cổ phiếu ưu đãi làm cổ phiếu quỹ. Do đó, cổ phiếu quỹ không phải là một loại cổ phiếu độc lập với những tính chất riêng biệt, mà khi nói đến cổ phiếu quỹ là nói đến tình trạng của cổ phiếu phổ thông hoặc ưu đãi sau khi đã được CTCP mua lại. Theo quy định của pháp luật nhiều nước trên thế giới, CTCP có thể xử lý cổ phiếu quỹ trong một khoảng thời gian nhất định theo hình thức bán lại trên thị trường hoặc hủy đi để giảm vốn điều lệ. Ngoài ra, cổ phiếu quỹ còn có thể được CTCP phân phối lại cho các cổ đông hiện hữu dưới hình thức cổ tức hoặc cổ phiếu thưởng.
Ba là, việc CTCP mua lại cổ phiếu của mình làm cổ phiếu quỹ không phải là hành vi kinh doanh. Bởi lẽ, nếu để CTCP kinh doanh trên chính cổ phiếu của mình thì như đã nói trên, sẽ tạo ra một môi trường đầu tư không bình đẳng và TTCK sẽ không thực hiện đúng vai trò là một kênh huy động vốn cho nền kinh tế. Chính vì vậy, pháp luật của nhiều nước quy định khá chặt chẽ về nguyên tắc hạch toán khi giao dịch cổ phiếu quỹ. Việc hạch toán đối với giao dịch cổ phiếu quỹ bao gồm giao dịch mua và các giao dịch tái phát hành (bán lại) được thực hiện theo hai phương thức: hạch toán theo giá vốn và hạch toán theo mệnh giá và việc chọn áp dụng theo cách nào là tùy thuộc vào quan niệm hay chủ trương của doanh nghiệp<5>. Nguyên tắc hạch toán cổ phiếu quỹ được thực hiện như sau: phần chênh lệch tăng hay giảm từ các giao dịch cổ phiếu quỹ sẽ được hạch toán thẳng vào phần “thặng dư vốn”<6> và làm tăng, giảm trực tiếp vốn cổ phần của CTCP mà không phản ánh vào kết quả hoạt động kinh doanh trong kỳ. Trong trường hợp việc bán lại cổ phiếu quỹ với giá thấp hơn giá khi mua vào vượt quá giá trị còn lại của tài khoản thặng dự vốn thì các CTCP sẽ sử dụng nguồn lợi nhuận giữ lại để tài trợ cho khoản còn lại mà không phản ánh dưới dạng số âm cho tài khoản thặng dự vốn<7>. Từ đó cho thấy, nếu chênh lệch phát sinh từ giao dịch cổ phiếu quỹ là số dương thì khoản chênh lệch này sẽ không được xem là lợi nhuận; ngược lại, nếu là số âm thì cũng không được xem là khoản lỗ của công ty. Với cách hạch toán này, các nhà làm luật trên thế giới đã không xem giao dịch cổ phiếu quỹ là một hành vi kinh doanh của CTCP trên chính cổ phiếu của mình.
Bốn là, cổ phiếu quỹ không được xem là tài sản của CTCP mà chỉ là một công cụ giúp CTCP tái cấu trúc lại vốn. Một nguyên tắc phổ biến hiện nay trên thế giới là CTCP không được sở hữu cổ phiếu của chính nó. Quan điểm này cũng được các nhà làm luật Thái Lan thể hiện rất rõ trong Luật CTCP của Vương quốc Thái Lan số B.E.2535 tại Điều 66: “Công ty không sở hữu cổ phần của chính nó hoặc dùng cổ phiếu để cầm cố”. Cổ phiếu quỹ là một bộ phận trong cấu trúc vốn của công ty, không phải là tài sản của công ty và cũng không được xem như là một loại hàng hóa để công ty kinh doanh nhằm mục đích lợi nhuận. Cổ phiếu quỹ được xem là một công cụ để cấu trúc lại vốn của công ty chứ không phải là một tài sản thuộc sở hữu công ty<8>. Chính vì vậy, pháp luật nhiều nước quy định, cổ phiếu quỹ không phát sinh quyền biểu quyết và không được tính vào số lượng cổ phiếu có quyền biểu quyết, không được chi trả cổ tức trên cổ phiếu quỹ<9>. Điều đó cũng có nghĩa là cổ phiếu quỹ bị trừ ra khỏi số lượng cổ phiếu đang lưu hành.
Việc quy định các trường hợp CTCP được mua lại cổ phần của công ty và điều kiện thanh toán, xử lý các cổ phần mua lại được các nhà làm luật Việt Nam quan tâm cách đây 15 năm. Lần đầu tiên, các quy định điều chỉnh hoạt động mua lại cổ phần của CTCP được Luật Doanh nghiệp năm 1999 quy định tại các Điều 64, 65 và 66. Có thể nói, các quy định này còn sơ khai và khá chung chung, rất khó áp dụng. Luật Doanh nghiệp năm 2005 ra đời – trong bối cảnh nước ta đang chuẩn bị tích cực cho quá trình hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới – được xem là cơ sở pháp lý quan trọng tạo ra những bước đột phá trong môi trường kinh doanh, từng bước tiếp cận và phù hợp với thông lệ quốc tế, đã có những quy định chi tiết hơn về hoạt động mua lại cổ phần của CTCP. Nội dung các quy định này tập trung điều chỉnh các quan hệ phát sinh khi CTCP mua lại cổ phần của chính công ty theo các trường hợp: theo yêu cầu của cổ đông (Điều 90) và theo quyết định của công ty (Điều 91). Ngoài ra, Luật Doanh nghiệp năm 2005 cũng quy định tương đối cụ thể điều kiện thanh toán và xử lý các cổ phần đã được mua lại (Điều 91). Nhìn chung, các quy định này là hết sức cần thiết và đáp ứng nhu cầu tạo ra một môi trường kinh doanh tự chủ, minh bạch trên cơ sở bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cổ đông và của bản thân CTCP. Trong thời gian qua, các quy định này đã góp phần tạo dựng cơ sở pháp lý quan trọng để CTCP có thể thực hiện giao dịch cổ phiếu quỹ, đặc biệt là khi TTCK đã đi vào hoạt động và đang từng bước phát triển. Dự thảo Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) tiếp tục dành sự quan tâm cho các quy định về mua lại cổ phần của CTCP. Điều này thể hiện ở chỗ, trong Dự thảo đã có 3 điều để quy định về hoạt động mua lại cổ phần của CTCP và điều kiện thanh toán, xử lý các cổ phần mua lại (Điều 133, Điều 134 và Điều 135). Có thể dễ dàng nhận thấy rằng, các quy định về mua lại cổ phần tại các Điều 133 và Điều 134 là giữ nguyên như nội dung quy định tại các Điều 90 và 91 trong Luật Doanh nghiệp năm 2005 về điều kiện, thủ tục mua lại cổ phần trong trường hợp theo yêu cầu của cổ đông và theo quyết định của công ty.

Xem thêm: Tiền Ảo Eos – Eos Coin Là Gì

Sự khác biệt duy nhất được ghi nhận tại Khoản 2 Điều 135 của Dự thảo thay thế Khoản 2 Điều 92 của Luật Doanh nghiệp năm 2005 liên quan đến việc xử lý cổ phần sau khi CTCP được mua lại. Theo đó, “Cổ phần được mua lại theo quy định tại Điều 133 và Điều 134 Luật này được coi là cổ phần chưa bán theo quy định tại khoản 4 Điều 115 Luật này. Công ty phải làm thủ tục điều chỉnh giảm vốn điều lệ tương ứng với tổng giá trị mệnh giá các cổ phần được công ty mua lại trong thời hạn năm ngày kể từ ngày hoàn thành việc thanh toán mua lại cổ phần, trừ trường hợp pháp luật chứng khoán có quy định khác”. Trong khi đó, Khoản 2 Điều 92 của Luật Doanh nghiệp năm 2005 lại quy định: “Cổ phần được mua lại theo quyết định tại Điều 90 và Điều 91 của Luật này được coi là số cổ phần thu về và thuộc số cổ phần được quyền chào bán” và không buộc phải hủy số cổ phần đã mua lại để giảm vốn điều lệ. Tuy nhiên, tại Khoản 3 Điều 92 có quy định: “Cổ phiếu xác nhận cổ phần đã mua lại phải được tiêu hủy ngay sau khi cổ phần tương ứng đã được thanh toán đủ”. Lý do hủy là xuất phát từ việc số cổ phần đã mua vào đã bị trừ ra khỏi số lượng cổ phần đang lưu hành và đang thuộc diện “được quyền chào bán”, trong khi cổ phiếu là hình thức xác nhận cổ phần, cổ phần lưu thông thông qua việc giao dịch cổ phiếu, vì vậy, quy định này nhằm mục đích ngăn chặn việc tham gia lưu thông của những cổ phần đã được mua vào.
Như vậy, nếu Luật Doanh nghiệp năm 2005 xem số cổ phần sau khi đã được CTCP mua lại thuộc diện “số cổ phần được quyền chào bán” thì Dự thảo lại xem các cổ phần này là “chưa bán”. Sự khác biệt ở đây là theo cách tiếp cận của Luật Doanh nghiệp năm 2005, số cổ phần mua lại được xem là số cổ phần được quyền chào bán nên công ty có thể tiến hành bán lại trên thị trường hoặc phân phối lại cho cổ đông hiện hữu dưới hình thức trả cổ tức bằng cổ phiếu hoặc phát hành cổ phiếu thưởng. Do đó, số cổ phần này vẫn đang còn hiện diện trong vốn điều lệ nhưng lại bị trừ ra khỏi số lượng cổ phiếu đang lưu hành nên có nguy cơ gây nên một phần “ảo” trong vốn điều lệ của công ty. Trong cách tiếp cận mới của Dự thảo là xem số cổ phần mua lại là số cổ phần “chưa bán” và buộc công ty phải hủy số cổ phần này, đồng thời làm thủ tục điều chỉnh giảm vốn điều lệ tương ứng với tổng giá trị mệnh giá các cổ phần được công ty mua lại trong một khoảng thời gian nhất định (theo Dự thảo là 5 ngày, kể từ ngày hoàn tất việc mua lại). Bằng cách này, các nhà làm luật hy vọng sẽ góp phần hạn chế tình trạng vốn “điều lệ ảo” khi CTCP mua lại cổ phần của mình. Tuy nhiên, theo chúng tôi, quy định này là một bước thụt lùi, vô hình trung đã làm triệt tiêu hoạt động giao dịch cổ phiếu quỹ của các CTCP vốn được xem là một công cụ tái cấu trúc vốn, thông qua đó, nguồn vốn của doanh nghiệp được sử dụng một cách hiệu quả hơn, mang lại lợi ích cho các cổ đông<10> và góp phần giúp cho hoạt động của TTCK sôi động. Nghiên cứu thực tiễn mua lại cổ phần ở các nước trên thế giới cho thấy, khi một CTCP thực hiện mua lại cổ phiếu do chính công ty phát hành để thực hiện các mục tiêu sau đây: một là, để giảm vốn điều lệ bằng cách hủy các cổ phiếu đã mua vào; hai là, bán lại trên thị trường hoặc phân phối cho các cổ đông hiện hữu. Với cách quy định như trong Dự thảo thì CTCP sau khi mua lại cổ phần chỉ có một con đường và một mục đích duy nhất là giảm vốn điều lệ. Cánh cửa tìm đến mục tiêu thứ hai đã bị các nhà soạn thảo Dự thảo khép lại. Điều này có nguy cơ đặt hoạt động giao dịch cổ phiếu quỹ không nằm trong “vùng phủ sóng” của pháp luật, ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của TTCK và làm mất đi một công cụ quan trọng của CTCP trong quá trình tái cấu trúc lại các nguồn vốn của mình.
Tham khảo kinh nghiệm lập pháp một số nước cho thấy, các nhà làm luật thường chia thành hai trường hợp khi xây dựng các quy định điều chỉnh hoạt động mua lại cổ phần của CTCP tùy thuộc vào mục đích mua lại. Trường hợp thứ nhất, nếu CTCP mua lại cổ phần để giảm vốn điều lệ thì công ty phải hủy số cổ phần đã mua và tiến hành điều chỉnh giảm vốn điều lệ theo cách mà Dự thảo Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) đang tiếp cận. Trường hợp thứ hai, nếu CTCP mua lại cổ phần làm cổ phiếu quỹ thì số cổ phiếu này không bị hủy đi mà công ty sẽ bán lại trên thị trường hoặc phân phối cho cổ đông dưới hình thức cổ tức hoặc cổ phiếu thưởng trong một khoảng thời gian nhất định, thường là sáu tháng hoặc một năm<14>. Trong thời hạn này, nếu CTCP không thực hiện bán lại cổ phiếu quỹ trên thị trường hoặc phân phối cho cổ đông hiện hữu thì số cổ phiếu này sẽ bị hủy bỏ để giảm vốn điều lệ. Theo quy định tại Khoản 3 Điều 72 Luật về CTCP của Liên bang Nga năm 1995 và được sửa đổi, bổ sung nhiều lần sau đó, thì CTCP mua lại cổ phần theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông nhằm mục đích giảm vốn điều lệ phải hủy bỏ số cổ phần đã mua ngay sau khi kết thúc việc mua lại; CTCP phải bán cổ phiếu quỹ không thấp hơn giá trị thị trường trong thời hạn một năm, kể từ ngày mua lại, trường hợp không thực hiện bán ra trong thời hạn nêu trên thì Đại hội đồng cổ đông của CTCP phải thông qua quyết định về việc hủy các cổ phiếu quỹ này để giảm vốn điều lệ<15>.
Chúng tôi cho rằng, cách tiếp cận của các nhà làm luật Liên bang Nga trong trường hợp này hoàn toàn có thể được nghiên cứu và xem xét một cách nghiêm túc để rút ra những kinh nghiệm bổ ích cho Việt Nam. Việc phân ra hai trường hợp để hình thành các quy định điều chỉnh hoạt động mua lại cổ phần của CTCP là khá hợp lý và tạo ra những sự lựa chọn và linh hoạt nhất định cho CTCP. Đồng thời, bằng cách này, chúng ta vẫn có thể kiểm soát và ngăn chặn việc sử dụng mua cổ phần để tạo nên “vốn điều lệ ảo” cũng như tạo cơ sở pháp lý để CTCP thực hiện giao dịch cổ phiếu quỹ – một hoạt động khá phổ biến, sôi động trên TTCK và đã được pháp luật chứng khoán thừa nhận và điều chỉnh.
Qua phân tích trên cho thấy, cần có sự đánh giá một cách nghiêm túc và kỹ lưỡng khi xây dựng các quy định liên quan đến hoạt động mua cổ phần của CTCP trong Dự thảo Luật Doanh nhiệp (sửa đổi). Các quy định này, một mặt, vừa phải đảm bảo tính chặt chẽ nhằm hạn chế tối đa việc mua lại cổ phiếu của CTCP không ảnh hưởng tiêu cực đến nguồn vốn của công ty, trong đó bao gồm cả nguy cơ làm phát sinh “vốn điều lệ ảo”; mặt khác, các quy định này cũng phải tạo ra một cơ hội sử dụng các nguồn vốn một cách linh hoạt, chủ động để mang lại cho các cổ đông những lợi ích tốt nhất và tạo nên sự đa dạng trong giao dịch trên TTCK, trong đó có giao dịch cổ phiếu quỹ. Từ quan điểm như vậy, chúng tôi cho rằng, Khoản 2 Điều 135 của Dự thảo Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) nên bổ sung quy định sau: “Trong trường hợp CTCP mua cổ phần nhằm mục đích bán lại hoặc để phân phối cho các cổ đông hiện hữu thì việc bán lại hoặc phân phối cho cổ đông hiện hữu chỉ được thực hiện sau sáu tháng, kể từ thời điểm kết thúc đợt mua lại. Số cổ phần mua lại được coi là số cổ phần chưa bán và không thuộc số cổ phần đang lưu hành của công ty”. Nếu được bổ sung, quy định này sẽ tạo cơ sở pháp lý quan trọng để CTCP thực hiện hoạt động giao dịch cổ phiếu quỹ, đồng thời giúp cho Dự thảo Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) phù hợp với các quy định hiện hành của pháp luật chứng khoán cũng như phù hợp hơn với thông lệ quốc tế. Qua đó, góp phần tháo gỡ những “vướng mắc, hạn chế đối với hoàn thiện và nâng cao chất lượng môi trường kinh doanh nói chung và phát triển doanh nghiệp nói riêng”<16> theo hướng khuyến khích và nâng cao quyền tự chủ của doanh nghiệp trong việc sử dụng các nguồn vốn và tạo điều kiện để TTCK tiếp tục phát triển./.
<7> Phan Thị Tường Tâm (2002), Một số giải pháp cơ bản nhằm quản lý và giao dịch cổ phiếu quỹ trên TTCK Việt Nam, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước – Đề tài khoa học cấp cơ sở, tr. 19.
<11> Tại các Điều 90, 91 và 92 Luật Doanh nghiệp năm 2005 sử dụng thuật ngữ “mua lại cổ phần” trong khi đó, Luật Chứng khoán năm 2006 và Thông tư 130 lại sử dụng thuật ngữ “mua lại cổ phiếu” và khi CTCP mua lại cổ phiếu của chính công ty thì gọi là “mua cổ phiếu quỹ”, cả hoạt động mua và bán thì gọi là “giao dịch cổ phiếu quỹ”. Chúng tôi cho rằng, về bản chất, cổ phiếu là hình thức xác nhận cổ phần, vì bản thân cổ phần là đơn vị góp vốn, đơn vị chuyển nhượng và đơn vị hạch toán các quyền và lợi ích của cổ đông nên hành vi mua cổ phần cũng chính là hành vi mua cổ phiếu. Cho nên, trong trường hợp này thuật ngữ “mua cổ phần” và thuật ngữ “mua cổ phiếu” là không có sự khác biệt về bản chất.

Xem thêm: Sxk Hadaly Sxk Là Gì – Chơi Vape Và Một Số Điều Cần Biết Khi Nhập Môn

<14> Tại Việt Nam, các nhà làm luật không quy định thời hạn mà CTCP phải thực hiện bán ra hoặc phân phối cổ phiếu quỹ cho cổ đông hiện hữu mà thay vào đó là quy định quy định thời hạn tối thiểu mà sau khi kết thúc mua vào CTCP phải thực hiện việc bán cổ phiếu quỹ. Khoản 1, Điều 39, Nghị định 58/2012/NĐ-CP quy định: “Công ty đại chúng chỉ được bán cổ phiếu quỹ sau 06 tháng kể từ ngày kết thúc đợt mua lại gần nhất, trừ trường hợp cổ phiếu quỹ được bán hoặc dùng làm cổ phiếu thưởng cho người lao động trong công ty hoặc công ty chứng khoán mua lại cổ phần của chính mình để sửa lỗi giao dịch”.

READ  Giá Cổ Phiếu Wft La Gì - Nhờ Cao Thủ Chỉ Giáo Wft

Trả lời

Back to top button