Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa

Quan điểm của Đảng về công bằng xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Thực hiện công bằng xã hội là một chủ trương lớn, quan điểm nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam, thể hiện bản chất nhân văn, tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang xây dựng. Việc hoàn thiện quan điểm của Đảng về công bằng xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một quá trình lâu dài, vừa làm, vừa tìm tòi, khảo nghiệm, chọn lọc, nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn để đề ra đường lối, chủ trương, biện pháp thực hiện theo hướng ngày càng đầy đủ, khoa học, sáng tạo và hiệu quả hơn.

Đang xem: Quan điểm của đảng về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

*

Một là, công bằng xã hội thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Từ năm 1986, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện đất nước; và, một trong những dấu ấn quan trọng là quan điểm phát triển nền kinh tế thị trường (KTTT) đã bước đầu được định hình. Từ tiền đề quan trọng đó, thể chế KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) ngày càng được hoàn thiện và được chứng minh tính đúng đắn trên thực tế khi giúp đất nước ta thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội, kinh tế tăng trưởng nhanh, xã hội ổn định, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện. Song, lại có một thực tế nảy sinh, cùng với thành tựu đạt được về kinh tế trong quá trình phát triển KTTT, khoảng cách giàu – nghèo lại tăng lên. Nhìn vào hiện tượng đó, có ý kiến cho rằng, nếu Việt Nam thực hiện KTTT sẽ không thể có công bằng xã hội (CBXH), tức là, thực hiện KTTT sẽ phải chấp nhận hy sinh CBXH để đổi lấy sự tăng trưởng kinh tế.

Theo C. Mác, CBXH chỉ thực sự có được trong chủ nghĩa xã hội, bởi vì khi đó chế độ tư hữu mới bị thủ tiêu, chế độ công hữu mới được thiết lập. Còn trong tư tưởng Hồ Chí Minh, CBXH không chỉ biểu hiện như là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, mà còn là mộtđộng lựcthúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, một biện pháp căn bản để hiện thực hóa những giá trị, lý tưởng cao cả của chủ nghĩa xã hội,… Đứng vững trên lập trường, quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nghiên cứu, xem xét khách quan, toàn diện các chiều cạnh của vấn đề và đi đến khẳng định rõ ràng, nhất quán rằng: CBXH và KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam không đối lập nhau, bài trừ, phủ định nhau mà luôn có mối quan hệ biện chứng với nhau, hỗ trợ, bổ sung cho nhau, làm cơ sở, tiền đề của nhau. Trong đó, CBXH không phải là nhân tố kìm hãm sự tăng trưởng kinh tế; trái lại, nó còn là động lực góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, sự phát triển kinh tế – xã hội nói riêng và sự tiến bộ xã hội nói chung. Bởi lẽ, CBXH tạo cơ hội bình đẳng cho mỗi cá nhân và mọi thành viên của xã hội có thể phát huy tối đa khả năng, sở trường trong tham gia, đóng góp vào sự phát triển của xã hội cũng như quyền lợi mà họ được hưởng một cách tương xứng. Nói cách khác, nếu CBXH được thực hiện đầy đủ thì lợi ích chính đáng của mỗi người được bảo đảm; điều đó sẽ trở thành động lực kích thích mọi người tích cực cống hiến cho xã hội một cách tự nguyện, tự giác nhất, qua đó sẽ thúc đẩy kinh tế tăng trưởng. Đảng ta khẳng định: “Chính sách xã hộiđúng đắn, công bằng vì con người là động lực mạnh mẽ phát huy mọi năng lực sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(1).

Mặt khác, việc thực hiện CBXH trong nền KTTT định hướng XHCN sẽ khắc phục bản chất cố hữu của nền KTTT là cạnh tranh, mạnh được, yếu thua, bất công, bất bình đẳng xã hội,… Vì vậy, trong điều kiện KTTT định hướng XHCN, Việt Nam không những có thể mà còn tất yếu phải thực hiện CBXH.

Về phía ngược lại, phát triển KTTT định hướng XHCN lại là cách thức, con đường, biện pháp thiết thực để thực hiện CBXH. Tuy vậy, Đảng ta cũng chỉ rõ, bản thân KTTT không tự động bảo đảm CBXH. Vì thế, phải có những điều tiết xã hội thông qua vai trò của Nhà nước XHCN, nhằm loại bỏ những thu nhập bất hợp pháp; đồng thời, giảm bớt những chênh lệch “hợp pháp” do thị trường đem lại nhờ lợi thế nhất định nào đó. Và, quan trọng hơn, hoạt động điều tiết ấy của Nhà nước sẽ giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ đối với tất cả mọi thành viên xã hội – điều mà KTTT không thể tự nó làm được. Văn kiện Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh: “Nhà nước sử dụng thể chế, các nguồn lực, công cụ điều tiết, chính sách phân phối và phân phối lại để phát triển văn hóa, thực hiện dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội; bảo đảm an sinh xã hội, từng bước nâng cao phúc lợi xã hội, chăm lo cải thiện đời sống mọi mặt của nhân dân, thu hẹp khoảng cách giàu – nghèo”(2).

Hai là, thực hiện công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển kinh tế.

Trước đổi mới và ở giai đoạn đầu của đổi mới, đã từng có không ít ý kiến cho rằng, Việt Nam còn nghèo, kinh tế chưa phát triển, cho nên, nhiệm vụ trước mắt là phát triển kinh tế, khi nào kinh tế phát triển cao mới có nền tảng, điều kiện vật chất để thực hiện CBXH. Ý kiến này thoáng qua dường như có vẻ hợp lý, nhưng thực chất không phù hợp với quan điểm, mục tiêu của Đảng ta cũng như bản chất của chế độ XHCN mà Việt Nam đang xây dựng.

Dựa chắc trên cơ sở lý luận mác-xít về mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của xã hội, giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội,… và thấu triệt quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Có khi vật tư, hàng hóa không thiếu, mà phân phối không đúng, thì gây ra căng thẳng không cần thiết. Trong công tác lưu thông phân phối, có hai điều quan trọng phải luôn luôn nhớ: “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng; Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên…”(3). Từ đó, Đảng nêu rõ yêu cầu: “Không chờ kinh tế phát triển cao rồi mới giải quyết các vấn đề xã hội, mà ngay trong từng bước và suốt quá trình phát triển, tăng trưởng kinh tế phải luôn gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội”(4); “thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước và từng chính sách phát triển là một chủ trương lớn, nhất quán của Đảng và Nhà nước ta, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa”(5).

Kinh nghiệm của nhiều quốc gia, khu vực trên thế giới cho thấy, nếu tách rời hoặc tuyệt đối hóa mục tiêu kinh tế mà xem thường, coi nhẹ mục tiêu xã hội thì kết cục mục tiêu kinh tế cũng không thể đạt được trọn vẹn. Ngược lại, nếu tuyệt đối hóa mục tiêu xã hội, không coi trọng đúng mức tới các mục tiêu kinh tế, tất yếu sẽ không có cơ sở, nền tảng vật chất để thực hiện mục tiêu xã hội. Điều đó có nghĩa, tăng trưởng kinh tế và CBXH có thể và cần phải làm tiền đề, điều kiện cho nhau. Trong đó, tăng trưởng kinh tế tạo ra điều kiện vật chất để thực hiện CBXH; thực hiện tốt CBXH sẽ trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Thực tiễn đã chỉ ra, sẽ không thể có CBXH trên cơ sở một nền kinh tế thấp kém; cũng không thể có một nền kinh tế tăng trưởng nhanh và bền vững trong một xã hội với đa số người dân trí tuệ thấp kém, thể trạng ốm yếu và tỷ lệ lao động thất nghiệp cao…

Xem thêm: Văn Phòng Truyền Thống Là Gì ? Ưu Nhược Điểm Vp Truyền Thống

Đảng ta khẳng định, chỉ có sự gắn kết hài hòa giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế với mục tiêu xã hội mới thực hiện được CBXH một cách bền vững. Đồng thời, nền KTTT định hướng XHCN tăng trưởng, phát triển kinh tế đến đâu, phải thực hiện ngay CBXH đến đó. Không thể chờ khi nào kinh tế phát triển đến trình độ cao mới thực hiện CBXH, càng không chấp nhận hy sinh CBXH để đổi lấy tăng trưởng kinh tế. Phải nhất quán “Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, y tế, giáo dục…, giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người”(6). Đặc biệt, cần coi trọng “gắn kết chặt chẽ chính sách kinh tế với chính sách xã hội, phát triển kinh tế với nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, bảo đảm để nhân dân được hưởng thụ ngày một tốt hơn thành quả của công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước”(7).

Đây là một trong những quan điểm rất quan trọng, thể hiện bước phát triển trong lý luận của Đảng về CBXH trong điều kiện KTTT định hướng XHCN.

Ba là, công bằng xã hội không có nghĩa là cào bằng, “bình quân chủ nghĩa”.

Theo quan điểm của Đảng ta, bản chất của CBXH là bảo đảm sự “ngang nhau” giữa người với người trong mối quan hệ giữa cống hiến với hưởng thụ, quyền lợi với nghĩa vụ, vinh dự với trách nhiệm. Vì thế, không thể coi việc thực hiện CBXH như là sự cào bằng; CBXH không phải là một sự ngang bằng, dàn đều theo kiểu “bình quân chủ nghĩa”. Đảng ta luôn nhấn mạnh, thực hiện CBXH ở Việt Nam,một mặt,không chỉ là hướng tới mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, mà đó còn là một động lực quan trọng nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, là một yêu cầu bức thiết của công cuộc đổi mới, chấn hưng đất nước. Do vậy, nếu đồng nhất CBXH với chủ nghĩa bình quân sẽ triệt tiêu động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế. Điều này sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhiều lần nhắc nhở: Bình quân chủ nghĩa là trái chủ nghĩa xã hội.Mặt khác,Đảng ta cho rằng, không phải cứ thu hẹp khoảng cách giàu – nghèo có nghĩa là có CBXH, cũng do đó không phải cứ gia tăng khoảng cách giàu – nghèo là đồng nghĩa với gia tăng sự bất công bằng.

Trên thực tế, sự đồng nhất CBXH với bình đẳng xã hội đã từng là cơ sở lý luận của chủ nghĩa bình quân, của quan niệm sai lầm cho rằng không thể đạt được đồng thời mục tiêu kép là công bằng xã hội và tăng trưởng kinh tế. Do đó, quan điểm trên đây là một bước tiến trong tư duy của Đảng về CBXH trong điều kiện KTTT định hướng XHCN.

Bốn là, thực hiện phân phối phù hợp – điều kiện căn bản để có công bằng xã hội.

Cả lý luận và thực tiễn đều khẳng định, muốn thực hiện tốt CBXH phải bảo đảm công bằng trong phân phối. Phân phối là quá trình phân chia kết quả sản xuất và các nguồn lực cho các nhu cầu sản xuất và sinh hoạt đời sống. Phân phối có vị trí rất quan trọng trong toàn bộ quá trình tái sản xuất xã hội, đồng thời có ý nghĩa kinh tế – xã hội rộng lớn. Vì vậy, cần có chính sách phân phối đúng đắn trong từng thời kỳ. Tuy nhiên, không phải ngay từ đầu và bất kỳ lúc nào chúng ta cũng xác định và thực hiện đúng nguyên tắc phân phối phù hợp. Trước đây, do áp dụng một cách máy móc, giáo điều theo mô hình nước ngoài, chủ nghĩa xã hội được hiểu và thực hiện trong thực tế theo chủ nghĩa bình quân. Nếu như trong điều kiện đất nước có chiến tranh, chính sách phân phối theo chủ nghĩa bình quân đóng vai trò lịch sử nhất định, trong một thời gian nhất định. Nhưng khi điều kiện thực tế đã thay đổi, chính sách phân phối theo kiểu bình quân kéo dài quá lâu đã cào bằng mọi giá trị lao động, chẳng những không tạo ra được bất cứ một sự CBXH nào, mà trái lại còn là lực cản, triệt tiêu động lực của sản xuất, trở thành một trong những nguyên nhân kìm hãm sự tăng trưởng kinh tế và dẫn đến những hậu quả tiêu cực cho sự phát triển của xã hội. Đây là một trong những nguyên nhân đòi hỏi chúng ta phải tiến hành công cuộc đổi mới, xác lậpcơ chế thị trườngnhằm thực hiện nguyên tắc công bằng mới: Xóa bỏ chế độ bao cấp, xây dựng hình thức và nguyên tắc phân phối hợp lý hơn.

Khi đất nước chuyển sang nền KTTT định hướng XHCN, Đảng ta xác định phải thực hiện nhiều hình thức phân phối. Theo quan điểm của Đảng,một mặt,nền kinh tế Việt Nam đang tồn tại nhiều thành phần, mỗi thành phần kinh tế dựa trên cơ sở một hình thức sở hữu tư liệu sản xuất nhất định và tương ứng sẽ là một hình thức phân phối. Mặc dù các thành phần kinh tế ở Việt Nam không tồn tại biệt lập mà đan xen với nhau và hợp thành một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất, nhưng khi còn tồn tại những hình thức sở hữu khác nhau thì sự phân phối thu nhập cá nhân chưa thể được thực hiện theo một hình thức thống nhất, mà phải được thực hiện theo nhiều hình thức. Chỉ có nh­ư vậy mới giải phóng được mọi năng lực sản xuất, khai thác triệt để mọi tiềm năng kinh tế của đất nước nhằm phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, từ đó từng bước củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất theo định hướng XHCN.

Xem thêm: Mẹ Của Hư Trúc Là Ai – Oan Nghiệt Mối Tình Của Sư Chùa Thiếu Lâm Tự

Mặt khác,nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam với nhiều chủ thể sản xuất, kinh doanh thuộc nhiều thành phần kinh tế tham gia. Mỗi chủ thể sản xuất, kinh doanh có phương thức tổ chức sản xuất, kinh doanh khác nhau, tạo nên tính đa dạng, phong phú của nền kinh tế. Trên cơ sở những phương thức kinh doanh đó, tồn tại những hình thức phân phối đa dạng, như phân phối theo tài sản; phân phối dựa trên các nguồn lực góp vào sản xuất, kinh doanh, như­ vốn, kinh nghiệm tổ chức quản lý sản xuất, lao động, trí tuệ, tài năng, cổ phần,…

Trả lời

Back to top button