Chứng khoán

nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán của ngân hàng đầu tư

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (200.16 KB, 30 trang )

Đang xem: Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán của ngân hàng đầu tư

Tiểu luận : Kinh doanh Chứng khoán.
Luận văn
ĐỀ TÀI: HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH PHÁT HÀNH CHỨNG KHOÁN TẠI CÔNG TY CHỨNG
KHOÁN NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ & PHÁT TRIỂN VIỆT NAM, THỰC TRẠNG VÀ GIẢI
PHÁP.
Nhóm I – K41DQ2 Page 1 of 30 Hà nội, tháng 08 năm 2011
Tiểu luận : Kinh doanh Chứng khoán.
Mục lục
Mục lục 2
Nhóm I – K41DQ2 Page 2 of 30 Hà nội, tháng 08 năm 2011
Tiểu luận : Kinh doanh Chứng khoán.
LỜI MỞ ĐẦU
1. Mục tiêu nghiên cứu.
Đề tài “Hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán tại Công ty chứng khoán Ngân hàng
Đầu tư và Phát triển Việt Nam, thực trạng và giải pháp” nghiên cứu một cách tổng quát, hệ thống
cơ sở lý luận chung về hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán. Đồng thời đề tài nghiên cứu
nhằm đánh giá, nhận định cụ thể về thực trạng hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán, những
tồn tại và nguyên nhân, qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện và nâng cao
hiệu quả hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán tại Công ty chứng khoán Ngân hàng ĐT & PT
Việt Nam.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đề tài lấy hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán tại Công ty chứng khoán Ngân hàng
ĐT & PT Việt Nam làm đối tượng nghiên cứu.
Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở một số vấn đề lý luận, thực tiễn có liên quan trực tiếp đến
hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán nói chung và hoạt động bảo lãnh phát hành chứng
khoán tại Công ty chứng khoán Ngân hàng ĐT & PT VN.
3. Kết cấu của đề tài.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo phần nội dung của đề tài bao gồm ba
chương:
Chương 1: Lý luận chung về công ty chứng khoán và nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng
khoán.

Chương 2 : Thực trạng về hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán tại Công ty chứng
khoán Ngân hàng ĐT & PT Việt Nam.
Chương 3 : Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động bảo lãnh phát hành chứng
khoán tại Công ty chứng khoán Ngân hàng ĐT & PT Việt Nam.
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ
CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ NGHIỆP VỤ BẢO LÃNH PHÁT HÀNH CHỨNG KHOÁN.
I. Những vấn đề cơ bản về công ty chứng khoán
1. Khái niệm công ty chứng khoán.
Công ty chứng khoán là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán, có thể đảm nhận
một hoặc nhiều trong số nghiệp vụ chính là môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo
lãnh phát hành chứng khoán, và tư vấn đầu tư chứng khoán.
Thị trường tài chính được chia thành 2 loại là thị trường tiền tệ ( money market) và thị trường
vốn ( capital market ).
* Thị trường tiền tệ là một bộ phận của thị trường tài chính mà tại đó diễn ra các hoạt động
giao dịch mua bán các công cụ tài chính ngắn hạn.
Nhóm I – K41DQ2 Page 3 of 30 Hà nội, tháng 08 năm 2011
Tiểu luận : Kinh doanh Chứng khoán.
* Thị trường vốn cũng là một bộ phận của thị trường tài chính mà tại đó diễn ra các hoạt động
giao dịch mua bán của các công cụ tài chính dài hạn. Công cụ tài chính dài hạn là các công cụ tài
chính có thời gian đáo hạn từ 1 năm trở lên. Thị trường vốn bao gồm 3 thị trường chính : thị
trường thuê mua( leasing market), thị trường tín dụng trung và dài hạn hay còn gọi là thị trường
thế chấp ( mortgage market ) và thị trường chứng khoán ( securities market ). Trong ba thị trường
trên, thì thị trường chứng khoán có vị trí quan trọng nhất trpng việc tập trung và huy động vốn tài
trợ cho đầu tư phát triển của các doanh nghiệp và của nền kinh tế.
Thị trường chứng khoán là một bộ phận của thị trường vốn mà tại đó các chứng khoán được
phát hành và mua bán. Trong đó, chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp
của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành. Chứng khoán được thể hiện
dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử bao gồm: cổ phiếu (stock), trái
phiếu( bond), chứng chỉ quỹ đầu tư, quyền mua cổ phần (right), chứng quyền ( warrant ), quyền
chọn (option), hợp đồng tương lai (future)…

Công ty chứng khoán là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán, có thể đảm nhận
một hoặc nhiều trong số nghiệp vụ chính là môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo
lãnh phát hành chứng khoán, và tư vấn đầu tư chứng khoán.
2. Cơ cấu tổ chức của công ty chứng khoán.
Thứ nhất, chịu ảnh hưởng của thị trường tài chính. TTCK là một bộ phận của thị trường tài
chính do đó những biến động của thị trường tái chính nói chung và TTCK nói riêng đều có những
ảnh hưởng nhất định đến hoạt động, các dich vụ và có thể cả lợi nhuận của các công ty chứng
khoán. Thị trường tài chính càng phát triển thì sẽ càng có nhiều cơ hội hơn cho sự phát triển của
TTCK và các công ty chứng khoán, các công cụ tài chính, các dịch vụ, sản phẩm hay trình độ
chuyên môn của một thị trường tài chính phát triển sẽ là những cơ hội cho sự phát triển của TTCK
và các công ty chứng khoán.
Thứ hai, trình độ chuyên môn hoá và phân cấp quản lý. Các bộ phận của
một công ty chứng khoán bao giờ cũng hoạt động độc lập với nhau và không phụ thuộc lẫn nhau
do các mảng hoạt động của các bộ phận của CTCK là khác nhau như môi giới, tự doanh. bảo lãnh
phát hành, tư vấn… Do đó mức độ chuyên môn hoá và phân cấp quản lý của các CTCK là rất cao
và rõ rệt, các bộ phận có thể tự quyết định hoạt động của mình.
Thứ ba, nhân tố con người giữ vai trò quyết định. Do đặc điểm chuyên
môn hoá cao nên con người cần có những khả năng độc lập trong quyết định, côngviệc. Khả năng
làm việc mỗi nhân viên trong công ty là nhân tố rất quan trọng giúpcho sự thành công của CTCK,
họ là cầu nối giữa khách hàng và công ty, tìm kiếmkhách hàng cho công ty và hiểu được tiềm lực
của chính những khách hàng đó dođó góp phần quan trọng cho thành công của công ty.
3. Vai trò của công ty chứng khoán.
Công ty chứng khoán là tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nói chung và
của TTCK nói riêng. Nhờ các công ty chứng khoán mà các chứng khoán được lưu thông từ nhà
Nhóm I – K41DQ2 Page 4 of 30 Hà nội, tháng 08 năm 2011
Tiểu luận : Kinh doanh Chứng khoán.
phát hành tới các nhà đầu tư qua đó huy động các nguồn vốn nhãn rỗi để sử dụng có hiệu quả.
CTCK có vai quan trọng đối với các chủ thể khác nhau trên thị trường chứng khoán.
 Đối với tổ chức phát hành:
Các CTCK thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành và đại lý phát hành cho các tổ chức phát hành

do đó các CTCK có vai trò rất quan trọng trong việc phát hành cổ phiếu, trái phiếu ra công chúng
của các tổ chức phát hành nhằm thực hiện mục tiêu là huy động vốn thông qua đợt phát hành các
chứng khoán ra công chúng. Ngoài ra các công ty chứng khoán còn hỗ trợ chuyên môn thông qua
tư vấn phát hành cho các tổ chức phát hành, cung cấp cho doanh nghiệp các giải pháp tổng hợp về
vấn đề tài chính, cơ cấu tổ chức công ty, lập và đánh giá dự án, quản lý tài sản và định hướng đầu
tư…
 Đối với các nhà đầu tư:
Thông qua các hoạt động như môi giới, tư vấn đầu tư, quản lý danh mục đầu tư… CTCK có vai
trò làm giảm chi phí và thời gian giao dịch, do đó nâng cao hiệu quả các khoản đầu tư. Các công ty
chứng khoán là công ty chuyên nghiệp trong việc thu thập và sử lý thông tin vì thế sẽ chính xác
hơn nếu như các CTCK đánh giá các khoản đầu tư của khách hàng, và tư vấn cho khách hàng về
định hướng đầu tư của họ. TTCK là một thị trường thường xuyên biến động về giá cả cũng như
mức độ rủi ro cao vì thế với một hoạt động chuyên nghiệp các CTCK sẽ giúp cho hoạt động của
TTCK trở nên hiệu quả và ổn định hơn, giúp cho các nhà đầu tư xác định đúng giá trị của các
chứng khoán. Đồng thời qua hoạt động tư vấn các CTCK trở thành một kênh thông tin có hiệu quả
đối với các nhà đầu tư như thông tin về giá cả của các chứng khoán, thông tin thị trường, chính
sách kinh tế xã hội… một cách chính xác và kịp thời tới các nhà đầu tư. Qua việc lưu ký và đăng
ký chứng khoán các công ty chứng khoán có vai trò quản lý chứng khoán hộ khách hàng do đó sẽ
dễ dàng trách được các rủi ro về mất hay hỏng chứng khoán, rủi ro về chứng khoán không còn giá
trị lưu hành… Nhờ đó kịp thời đưa ra các quyết đinh xử lý, đảm bảo quyền lợi của khách hàng.
 Đối với thị trường chứng khoán.
Góp phần tạo lập giá cả, điều tiết thị trường. Giá cả chứng khoán là do thị trường quyết định, tuy
nhiên để đưa ra mức giá cuối cùng người mua và người bán phải thông qua các công ty chứng
khoán vì họ không được tham gia trực tiếp vào quá trình mua bán. Với việc cung cấp cơ chế giá
cả, CTCK góp phần đưa giá chứng khoán phản ánh đúng cung cầu của thị trường. Ngoài ra,
CTCK còn thực hiện vai trò ổn định thị trường. Vai trò này xuất phát từ nghiệp vụ tự doanh, qua
nghiệp vụ này các công ty chứng khoán nắm giữ một tỷ lệ nhất định các chứng khoán qua đó góp
phần bình ổn thị trường. Bằng hoạt động bảo lãnh phát hành các CTCK tạo ra hàng hoá cho và tạo
ra tính hấp dẫn của hàng hoá cho cho thị trường, các tổ chức phát hành chứng khoán thông qua
hoạt động bảo lãnh của các công ty chứng khoán thì chứng khoán phát hành sẽ có uy tín hơn trên

thị trường và sẽ dễ dàng giao dịch trên thị trường, đồng thời giá của chứng khoán cũng sẽ được
các CTCK xác định một cách chính xác, phù hợp với tổ chức phát hành góp phần bình ổn giá
chứng khoán trong giai đoạn đầu. Điều này giúp cho chứng khoán của các tổ chức phát hành phát
Nhóm I – K41DQ2 Page 5 of 30 Hà nội, tháng 08 năm 2011
Tiểu luận : Kinh doanh Chứng khoán.
hành thông qua CTCK sẽ đựoc tín nhiệm hơn góp phần làm tăng tính thah khoản của các chứng
khoán phát hành trên thị trường sơ cấp. Bên cạnh đó, hoạt động môi giới và tư vấn của các công
ty chứng khoán trên thị trường chứng khoán thứ cấp tạo nên tính thanh khoản cho các chứng
khoán.
Các chứng khoán có tính thanh khoản càng cao càng hấp dẫn được công chúng đầu tư hơn từ đó
tạo điều kiên thuận lợi cho sự phát triển của các doanh nghiệp phát hành chứng khoán trên thị
trường.
 Đối với cơ quan quản lý thị trường.
Các cơ quan quản lý thị trường có mục tiêu là quản lý và bình ổn thị trường giúp cho thị trường
hoạt động một cách có hiệu quả nhất và trong mục tiêu đó các công ty chứng khoán có vai trò rất
quan trọng là cung cấp các thông tin cho các cơ quan quản lý để họ thực hiện tốt mục tiêu đó.Các
công ty chứng khoán thực hiện được vai trò này là vì các CTCK là công ty hoạt động chuyên
nghiệp trên thị trường nên các thông tin mà họ có được là các thông tin nhanh nhất và chính xác
nhất vì họ vừa là người bảo lãnh phát hành vừa là người phát hành chứng khoán ra công chúng
thông qua các hoạt động bảo lãnh và đại lý bảo lãnh phát hành, vừa là trung tâm mua và bán các
chứng khoán do đó các thông tin phải được công khai trên thị trường dưới sự giám sát của các nhà
quản lý thị trường. Việc công khai các thông tin vừa là quy định của hệ thống pháp luật vừa là
nguyên tắc nghề nghiệp của các CTCK vì các công ty chứng khoán cần phải minh bạch trong hoạt
động của mình. Nhờ các thông tin này mà các cơ quan quản lý thị trường có thể kiểm soát và
chống các hiện tượng thao túng là lũng đoạn thị trường.
Tóm lại, vai trò của các CTCK có vai trò vô cùng quan trọng trên thị trường chứng khoán, không
chỉ góp phần tạo ra hàng hoá và tính hấp dẫn của hàng hoá trên thị trường mà còn là nhân tố quan
trọng giúp cho thị trường ổn định và phát triển. Tạo ra lợi ích kinh tế cho toàn xã hội thông qua
việc làm giảm chi phí giao dịch, tạo ra nguồn vốn lớn cho toàn nên kinh tế và thị trường thúc đẩy
các luồng tiền nhãn rỗi đi vào hoạt đầu tư cho sự phát triển của nên kinh tế.

4. Các nghiệp vụ của công ty chứng khoán.
4.1. Các nghiệp vụ chính:
 Nghiệp vụ môi giới chứng khoán:
Môi giới chứng khoán là hoạt động trung gian hoặc đại diện mua, bán chứng khoán cho khách
hàng để hưởng hoa hồng. Theo đó công ty chứng khoán đại diện cho khách hàng tiến hành giao
dịch thông qua cơ chế giao dịch tai SGDCK hoặc thị trường OTC mà chính khách hàng phải chịu
trách nhiệm đối với kết quả giao dịch của mình.
 Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành:
Để thực hiện thành công các đợt phát hành chứng khoán để huy động vốn tổ chức phát hành
phải cần đến các công ty chứng khoán tư vấn cho đợt phát hành và thực hiện bảo lãnh phát hành,
phân phối chứng khoán ra công chúng. Đây chính là nghiệp vụ bảo lãnh phát hành của các công ty
chứng khoán và là nghiệp vụ chiếm tỷ lệ khá cao trong tổng doanh thu của CTCK.
Nhóm I – K41DQ2 Page 6 of 30 Hà nội, tháng 08 năm 2011
Tiểu luận : Kinh doanh Chứng khoán.
Như vậy, nghiệp vụ bảo lãnh phát hành là việc CTCK có chức năng bảo lãnh giúp tổ chức phát
hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, tổ chức việc phân phố chứng khoán và
giúp bình ổn giá chứng khoán trong giai đoạn đầu sau khi phát hành. Khi một tổ chức muốn phát
hành chứng khoán tổ chức đó gửi yêu cầu bảo lãnh phát hành đến công ty chứng khoán. CTCK có
thể sẽ ký hợp đồng tư vấn quản lý để tư vấn cho tổ chức phát hành về loại chứng khoán cần phát
hành, số lượng chứng khoán phát hành, định giá chứng khoán và phương thức phân phối chứng
khoán đến các nhà đầu tư thích hợp.
 Hoạt động tự doanh chứng khoán:
Là việc công ty chứng khoán tự tiến hành các giao dịch mua, bán chứng khoán cho chính mình.
Hoạt động này được thực hiện thông qua cơ chế giao dịch trên thị trường giao dịch chứng khoán
hoặc thị trường OTC, nghiệp vụ này hoạt động song hành với nghiệp vụ môi giới, vừa phục vụ
lệnh của khách hàng vừa phục vụ cho chính mình .Vì vậy trong hoạt động có thể dẫn đến xung đột
lợi ích giữa thực hiện giao dịch cho khách hàng và bản thân công ty. Do đó luật pháp các nước yêu
cầu phải tách biệt rõ ràng hoạt động tự doanh chứng khoán và hoạt động môi giới chứng khoán,
theo đó công ty chứng khoán phải ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước khi thực hiện lệnh
của công ty. Khác với hoạt động môi giới chứng khoán công ty chứng khoán chỉ làm trung gian

thực hiện lệnh cho khách hàng và hoạt động chỉ vì mục tiêu là hưởng hoa hồng từ các giao dịch thì
hoạt động tự doanh chứng khoán hoạt động bằng chính nguồn vốn của công ty nên ngoài mục tiêu
lợi nhuận là đầu tư để hưởng chênh lệch giá hoạt động này của các Công ty chứng khoán (CTCK)
còn nhằm mục tiêu là bình ổn thị trường, kiểm soát thị trường hay đóng vai trò là một nhà tạo lập
thị trường cho các chứng khoán phát hành.
 Nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư:
Đây là nghiệp vụ quản lý vốn uỷ thác của khách hàng để đầu tư vào chứng khoán thông qua
danh mục đầu tư nhằm sinh lợi cho khách hàng trên cơ sở tăng lợi nhuận và bảo toàn vốn cho
khách hàng. Hoạt động này có thể coi là vì lợi ích của khách hàng theo một hợp đồng đã được ký
kết trước giữa khách hành và công ty chứng khoán theo đó CTCK quản lý nguồn vốn của khách
hàng như là một hoạt động tư vấn cho khách hàng nhưng ở một mức độ cao hơn vì trong hoạt động
này khách hàng uỷ thác cho CTCK thay mặt mình quyết định đầu tư theo một chiến lược hay theo
một danh mục đã được khách hành chấp nhận.
 Nghiệp vụ tư vấn đầu tư chứng khoán:
Tư vấn đầu tư chứng khoán là việc công ty chứng khoán thông qua hoạt động phân tích để đưa
ra các lời khuyên, khuyến nghị, phân tích và thực hiện một số dịch vụ khác liên quan đến phát
hành, đầu tư và cơ cấu tài chính cho khách hàng. Hoạt động tư vấn là hoạt động mà người ta sử
dụng tri thức, kiến thức có được để phân tích thị trường và cung cấp thông tin cho khách hàng.
Yêu cầu đòi hỏi nhà tư vấn phải có nhiều kiến thức, kinh nghiệm kỹ năng chuyên môn đồng thời
cần phải có tính trung thực cao, thận trọng trong công việc để đưa ra được các lời khuyên chính
xác, hợp lý vì các lời khuyên này ảnh hưởng đến lợi nhuận của
khách hàng và hình ảnh của chính bản thân CTCK.
Nhóm I – K41DQ2 Page 7 of 30 Hà nội, tháng 08 năm 2011
Tiểu luận : Kinh doanh Chứng khoán.
4.2. Các nghiệp vụ phụ trợ:
 Nghiệp vụ lưu ký chứng khoán:
Lưu ký chứng khoán là hoạt động nhằm lưu giữ, bảo quản chứng khoán của khách hàng thông
qua các tài khoản lưu ký và giúp khách hàng thực hiện các quyền của mình đối với chứng khoán
lưu ký. Đây là quy định bắt buộc trong giao dịch chứng khoán, bởi vì giao dịch chứng khoán trên
thị trường tập trung là hình thức ghi sổ, khách hàng phải mở tài khoản lưu ký chứng khoán tại các

CTCK ( Nếu chứng khoán phát hành dưới hình thức ghi sổ ) hoặc ký gửi các chứng khoán (Nếu
chứng khoán phát hành dưới hình thức chứng chỉ vật chất )
Khi thực hiện dịch vụ lưu ký chứng khoán CTCK sẽ nhận được các khoản phí lưu ký, phí gửi, phí
rút và phí chuyển nhượng chứng khoán.
 Quản lý thu nhập của khách hàng:
Thông qua nghiệp vụ lưu ký chứng khoán cho khách hàng CTCK có trách nhiệm thông báo cho
khách hàng về tình hình của thu lãi, cổ tức của chứng khoán và đứng ra thu nhận cổ tức cho khách
hàng thông qua tài khoản của khách hàng.
 Nghiệp vụ tín dụng:
Hoạt động này là việc các CTCK cho khách hàng vay chứng khoán để khách hàng thực hiện
giao dịch bán khống, hoặc cho khách hàng vay tiền để khách hàng thực hiện mua ký quỹ.
 Nghiệp vụ quản lý quỹ:
Là nguồn vốn được hình thành từ nguồn vốn góp của các nhà đầu tư trên thị trường, được uỷ
thác cho các công ty quản lý quỹ đầu tư đầu tư nhằm thu lại lợi nhuận cho nhà đầu tư. Theo pháp
luật của một số thị trường các nước cho phép các CTCK được thực hiện quản lý quỹ đầu tư, các
CTCK cử đại diện của mình để quản lý quỹ và sử dụng vốn và tài sản của quỹ đầu tư để đầu tư vào
chứng khoán. Công ty chứng khoán được thu phí và dịch vụ quản lý quỹ đầu tư.
Tóm lại, hoạt động của các công ty chứng khoán có vai trò rất lớn đối với thị trường chứng
khoán và toàn nền kinh tế, mỗi nghiệp vụ hoạt động độc lập với nhau và tuy theo khả năng tài
chính hay thế mạnh mỗi CTCK mà các CTCK có thể phát triển tất cả các nghiệp vụ hoặc các
nghiệp vụ khác nhau nhằm thu lại lợi nhuận lớn nhất cho công ty chứng khoán.
II. Hình thức phát hành chứng khoán
Phát hành chứng khoán: Là hoạt động chào bán chứng khoán có thể chuyểnnhượng được thông
qua tổ chức trung gian cho ít nhất một số lượng các nhà đầu tư nhất định ngoài tổ chức phát hành.
Theo nghị định 144/20003/NĐ – CP của chínhphủ Việt Nam thì số lượng tối thiểu các nhà đầu tư
mà tổ chức phát hành chào bánlà 50 nhà đầu tư ngoài tổ chức phát hành. Là hoạt động của thị
trường sơ cấp nhằmhuy động vốn cho tổ chức phát hành, thông thường các tổ chức phát hành sử
dụng phương pháp bảo lãnh phát hành, đấu thầu và phát hành riêng lẻ…
Việc chào bán chứng khoán ra công chúng để huy động vốn được gọi là phát hành chứng
khoán. Nếu đợt phát hành dẫn đến việc đưa ra một loại chứng khoán của một tổ chưc lần đầu tiên

Nhóm I – K41DQ2 Page 8 of 30 Hà nội, tháng 08 năm 2011
Tiểu luận : Kinh doanh Chứng khoán.
phát hành ra công chúng thì gọi là phát hành lần đầu ra công chúng. Nếu việc phát hành đó là việc
phát hành bổ sung bởi tổ chức đã có chứng khoán cùng loại lưu thông trên thị trường thì gọi là đợt
phát hành chứng khoán bổ sung.
1. Phát hành chứng khoán riêng lẻ (Private Placement)
Phát hành riêng lẻ là hình thức phát hành trong đó đơn vị phát hành chào bán chứng khoán
của mình trong phạm vi một số nhà đầu tư nhất định với những điều kiện hạn chế mang tính chất
khép kín.
Các công ty chứng khoán, ngân hàng đầu tư cũng có thể tham gia vào việc phát hành riêng
lẻ với tư cách nhà phân phối để hưởng phí phát hành. Các công ty thực hiện phát hành chứng
khoán riêng lẻ khi:
+ Công ty chưa đủ tiêu chuẩn để phát hành chứng khoán ra công chúng;
+ Số lượng vốn cần huy động thấp, quy mô huy động chưa cần ở mức rộng rãi, phạm vi hoạt
động vẫn mang tính chất nội bộ, khép kín
+ Phát hành cổ phiếu nhằm mục đích tăng cường các mối quan hệ kinh doanh hoặc phát hành
cho nội bộ cán bộ, nhân viên của đơn vị phát hành.
2. Phát hành chứng khoán ra công chúng
Phát hành chứng khoán ra công chúng là hình thức phát hành trong đó chứng khoán được bán
rộng rãi cho quảng đại quần chúng đầu tư ( trong đó phải dành một tỷ lệ cho nhà đầu tư nhỏ) với
quy mô lớn cho một số lượng nhà đầu tư đảm bảo yêu cầu công khai, minh bạch và tuân thủ pháp
luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán.
Phát hành chứng khoán ra công chúng sẽ chịu sự điều chỉnh của pháp luật về chứng khoán
và thị trường chứng khóa. Đơn vị phát hành phải thỏa mãn một số điều kiện nhất định và phải đăng
ký với cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán. Phát hành chứng khoán ra công chúng phải tiến
hành công khai và chịu sự giám sát của Luật chứng khoán. Công ty đã thực hiện phát hành chứng
khoán được gọi là công ty đại chúng.
Phát hành chứng khoán ra công chúng được phân biệt giữa phát hành cổ phiếu ra công chúng
và phát hành trái phiếu ra công chúng. Đối với phát hành cổ phiếu ra công chúng, việc phát hành
được thực hiện theo một trong 2 hình thức: phát hành lần đầu ra công chúng và phân phối sơ cấp.

Trong khi phát hành trái phiếu ra công chúng chỉ thực hiện bằng một hình thức duy nhất là phân
phối sơ cấp.
• Phát hành lần đầu ra công chúng ( IPO – Initial Public Ofering): là đợt phát hành trong đó
cổ phiếu của công ty lần đầu tiên được bán rộng rãi cho công chúng đầu tư.
• Phân phối sơ cấp ( PO – Primary offering): là đợt phát hành cổ phiếu bổ sung của công ty
đại chúng cho rộng rãi công chúng đầu tư và các đợt phát hành trái phiếu ra công chúng
– Lợi ích phát hành chứng khoán ra công chúng
 Phát hành ra công chúng nhằm huy động vốn
Nhóm I – K41DQ2 Page 9 of 30 Hà nội, tháng 08 năm 2011
Tiểu luận : Kinh doanh Chứng khoán.
 Phát hành chứng khoán ra công chúng là điều kiện để tham gia niêm yết trên thị trường tập
trung
 Tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
 Nâng cao uy tín, quảng bá hình ảnh
 Giảm chi phí tiếp cận vốn
III. Những vấn đề cơ bản về nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán.
1. Khái niệm bảo lãnh phát hành chứng khoán.
Bảo lãnh phát hành là việc tổ chức bảo lãnh giúp đơn vị phát hành thực hiện các thủ tục
trước khi chào bán chứng khoán, tổ chức việc phân phối chứng khoán và giúp bình ổn giá chứng
kháon trong giai đoạn đầu sau khi phát hành. Trên thế giới, các ngân hàng đầu tư, các công ty
chứng khoán thường là những tổ chức đứng ra làm bảo lãnh phát hành.
Tổ chức bảo lãnh là người chịu trách nhiệm mua hoặc chào bán chứng khoán của một tổ
chức phát hành nhằm thực hiện việc phân phối chứng khoán để hưởng hoa hồng.
Đối với thị trường chứng khoán Việt Nam thì nghiệp vụ bảo lãnh phát hành được coi là
nghiệp vụ quan trọng và là một trong năm nghiệp vụ được cấp giấy phép hoạt động của công ty
chứng khoán. Hoạt động bảo lãnh phát hành có nhiều ý nghĩa quan trọng, như giảm chi phí phát
hành, tào tính ổn định cho các chứng khoán mới phát hành trong đó quan trọng nhất là mang lại
tính chuyên nghiệp cho thị trường. Tuy nhiên, hoạt động bảo lãnh phát hành của các CTCK ở nước
ta hiện nay chưa thực sự đóng vai trò như vây là do thị trường chứng khoán ở nước ta chưa thực
sự phát triển số lượng các công ty cổ phần phát hành chứng khoán ra công chúng còn rất ít, thiếu

các dự án khả thi, các doanh nghiệp vẫn còn thói quen sử dụng nguồn vốn vay nhiêu hơn, lý do thứ
hai là do khối lượng phát hành chứng khoán là nhỏ do đó các tổ chức phát hành (TCPH) không cần
đến hoạt động bảo lãnh phát hành của các CTCK và nguyên nhân quan trọng nhất xuất phát từ hạn
chế của các CTCK, các công ty chứng khoán ở nước ta hiện nay do hoạt động chưa lâu trên thị
trường nên yếu cả về tiềm lực vốn và nghiệp vụ chuyên môn. Với mức vốn đáp ứng ở yêu cầu tối
thiểu khi đăng ký như hiện nay các tổ chức này chỉ dám tham gia với vai trò đại lý phân phối cho
TCPH, đội ngũ cán bộ của các CTCK hiện nay hầu hết họ đều là những cán bộ trẻ có năng lực,
được đào tạo bài bản tuy nhiên hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán đòi hỏi những cán bộ
không chỉ có trình độ chuyên môn nghiệp vụ giỏi mà còn cần phải có kinh nghiệm, hiểu biết về
hoạt động bảo lãnhphát hành và đó là những hạn chế mà các cán bộ của CTCK ở nước ta còn tồn
tại.
2. Các phương thức bảo lãnh phát hành chứng khoán.
Việc bảo lãnh phát hành thường được thưc hiện theo một trong các phương thức sau:
2.1. Bảo lãnh với cam kết chắc chắn:
Là phương thức bảo lãnh mà theo đó tổ chức bảo lãnh cam kết sẽ mua toàn bộ số chứng
khoán phát hành cho dù có phân phối được hết chứng khoán này hay không. Trong hình thức theo
“ cam kết chắc chắn”, một nhóm các tổ chức bảo lãnh phát hình thành một tổ hợp đêt mua chứng
Nhóm I – K41DQ2 Page 10 of 30 Hà nội, tháng 08 năm 2011
Tiểu luận : Kinh doanh Chứng khoán.
khoán của tổ chức phát hành với giá chiết khấu so với giá chào bán ra công chúng ( POP) và bán
lại các chứng khoán đó ra công chúng theo giá POP. Chênh lệch giữa giá mua chứng khoán của
các tổ chức bảo lãnh vơi giá chào bán ra công chúng được gọi là hoa hồng chiết khấu.
2.2. Bảo lãnh theo phương thức dự phòng
Đây là phương thức thường được áp dụng khi một công ty đại chúng phát hành bổ sung thêm
cổ phiếu thường ở các nước phát triển. Trong trường hợp đó, công ty cần phảo bảo vệ quyền lợi
cho các cổ đông hiện hữu, và như vậy, công ty phải chào bán cổ phiếu bổ sung cho các cổ đông cũ
trước khi chào bán ra công chúng bên ngoài.
2.3. Bảo lãnh với cố gắng cao nhất
Là phương thức bảo lãnh mà theo đó tổ chức bảo lãnh thỏa thuận làm đại lý cho tổ chức
phát hành. Tổ chức phát hành không cam kết bán toàn bộ số chứng khoán mà cam kết sẽ cố gắng

READ  ưu nhược điểm của bảo lãnh phát hành chứng khoán

Xem thêm: Tuyển Chọn 50 Stt Thả Thính Bằng Môn Địa Lý, Thả Thính Bằng Môn Học =))

hết sức để bán chứng khoán ra thị trường, nhưng nếu không phân phối hết sẽ trả lại cho tổ chức
phát hành phần còn lại.
2.4. Bảo lãnh theo phương thức bán tất cả hoặc không
Trong phương thức này tổ chức phát hành yêu cầu tổ chức bảo lãnh phát hành bán một số
lượng chứng khoán nhất định ra công chúng, nếu không phân phối được hết sẽ hủy toàn bộ đợt
phát hành.
2.5. Bảo lãnh theo phương thức tối thiểu – tối đa
Là phương thức trung gian giữa phương thức bảo lãnh với cố găng cao nhất và phương thức
bảo lãnh bán tất cả hoặc không. Theo phương thức này, tổ chức phát hành yêu cầu tổ chức bảo
lãnh bán tối thiểu một tỷ lệ chứng khoán nhất định (mức sàn). Vượt trên mức ấy, tổ chức bảo lãnh
được tụ do chào bán chứng khoán đến mức tối đa quy định (mức trần). Nếu lượng chứng khoán
bán được tỷ lệ thấp hơn mức yêu cầu thì toàn bộ đợt phát hành sẽ bị hủy bỏ.
3. Các chủ thể tham gia đợt bảo lãnh phát hành chứng khoán.
3.1. Tổ hợp bảo lãnh phát hành
Tổ hợp bảo lãnh phát hành là một nhóm các tổ chức bảo lãnh đứng ra đảm nhận nghiệp vụ
bảo lãnh phát hành nhằm hạn chế rủi ro và đảm bảo việc phân phối chứng khoán được tiến hành
nhanh chóng và có hiệu quả.
3.2. Tổ hợp bảo lãnh chính
Tổ chức này sẽ do đơn vị phát hành lựa chọn. Thẩm quyền của tổ chức bảo lãnh phát hành
chính được quy định trong hợp đồng giữa các tổ chức bảo lãnh tham gia đợt phát hành.
3.3. Nhóm đại lý phân phối
Bao gồm các công ty chứng khoán tự doanh giúp cho việc phân phối chứng khoán.
4. Quy trình thực hiện đợt bảo lãnh phát hành chứng khoán.
Gồm 4 bước cơ bản sau: phân tích đánh giá khả năng phát hành; chuẩn bị hồ sơ xin phép
phát hành; bán chứng khoán ra công chúng; bình ổn và điều hòa thị trường.
4.1 Phân tích và đánh giá khả năng phát hành
Nhóm I – K41DQ2 Page 11 of 30 Hà nội, tháng 08 năm 2011
Tiểu luận : Kinh doanh Chứng khoán.
Ngay từ trước khi hợp đồng bảo lãnh phát hành được kí kết, tổ chức bảo lãnh phát hành cũng
bắt đầu tìm hiểu đóng vai trò như 1 đơn vị tư vấn phát hành. Tổ chức bảo lãnh phát hành sẽ cùng

đơn vị phát hành lập nhóm nghiên cứu tiền khả thi để chuẩn bị phát hành. Nhóm này sẽ bao gồm
nhân viên phân tích của tổ chức bảo lãnh phát hành và các cán bộ của đơn vị phát hành. Nhóm
chuẩn bị sẽ tiến hành những phân tích, đánh giá về khả năng phát hành ra công chúng trên những
khía cạnh chủ yếu như: tình hình hoạt động của đơn vị phát hành, tiềm lực tài chính của đơn vị
phát hành, tình hình thị trường của các sản phẩm chính, các khía cạnh pháp lí của việc phát hành
chứng khoán ra công chúng, tình hình thị trường vốn trong nước và nước ngoài.
Kết quả phân tích ban đầu này nhằm cung cấp những thông tin cho hội đồng quản trị và đại
hội đồng cổ đông ra quyết định phát hành. Không nhữg thế những phân tích trên được tiến hành
cũng sẽ góp phần đưa ra những phương hướng chính về cách thức phát hành và chủng loại phát
hành.
4.2 Phối hợp với đơn vị phát hành chuẩn bị hồ sơ đăng kí phát hành
Sau khi hợp đồng bảo lãnh phát hành được kí kết tổ chức bảo lãnh phát hành sẽ phối hợp với
đơn vị phát hành để thực hiện công tác chuẩn bị hồ sơ đăng kí phát hành. Việc chuẩn hồ sơ đăng kí
phát hành cần sự tham gia của các chuyên gia tài chính, kế toán và pháp lí. Các chuyên gia này là
nhân viên của tổ chức bảo lãnh hoặc cũng có thể là do tổ chức bảo lãnh tập hợp từ các công ty tài
chính, kế toán hay luật pháp khác.
Luật pháp của hầu hết các quốc gia đều quy định tổ chức bảo lãnh phải chịu trách nhiệm liên
đới đối với hồ sơ đăng kí phát hành của đơn vị phát hành. Tức là tổ chức bảo lãnh phải chịu trách
nhiệm trước sai sót hay thiếu hụt thông tin trong hồ sơ xin phép phát hành. Quy định này nhằm
đảm bảo tổ chức bảo lãnh có những cố gắng tối đa trong việc kiểm tra tính đúng đắn, đầy đủ và
hợp pháp của các thông tin đưa ra trong hồ sơ xin đăng kí phát hành và các thông tin trong bản cáo
bạch. Quy định này sẽ đảm bảo cho các nhà đầu tư có được những thông tin xác thực và đầy đủ để
đưa ra quyết định đầu tư
Trong trường hợp bảo lãnh phát hành theo hình thức tổ hợp bảo lãnh thì tổ chức bảo lãnh
chính sẽ phải quyết định quy mô tổ hợp và xác định các thành viên tham gia tổ hợp. Việc thành lập
tổ hợp bảo lãnh cũng có những lợi ích nhất định đối với các tổ chức bảo lãnh bởi nó có thể phân
tán rủi ro. Tổ chức bảo lãnh tham gia tổ hợp bảo lãnh phát hành có thể do tổ chức bảo lãnh chính
lựa chọn hoặc do chính các tổ chức bảo lãnh tiếp xúc với tổ chức bảo lãnh chính để tìm cơ hội
tham gia.
Tổ chức bảo lãnh chính cũng có thể thành lập nhóm bán, bao gồm các đại lí phân phối.

Thông thường các địa lí phân phối được xác định sau khi tổ hợp bảo lãnh được thiết lập.
Để phân định quyền lợi và nghĩa vụ giữa các bên tham gia vào quá trình bảo lãnh phát hành,
các hợp đồng sau phải được ký kết trước khi quá trình phát hành được khởi động: hợp đồng giữa
Nhóm I – K41DQ2 Page 12 of 30 Hà nội, tháng 08 năm 2011
Tiểu luận : Kinh doanh Chứng khoán.
các tổ chức bảo lãnh, hợp đồng bảo lãnh phát hành hay còn có thể gọi là cam kết bảo lãnh phát
hành, hợp đồng với các đại lý được lựa chọn( nếu có). Các hợp đồng này sẽ quy định rõ về quyền
lợi và trách nhiệm giữa các bên tham gia quá trình chào bán chứng khoán ra công chúng. Các hợp
đồng này thường cũng sẽ quy định những điều khoản nhằm đảm bảo hồ sơ đăng kí phát hành và
bản cáo bách chứa đựng những thông tin chính xác và đầy đủ về tình hình sản xuất kinh doanh,
năng lực tài chính của đơn vị phát hành.
Tại bước này, tổ chức bảo lãnh phát hành cũng phải phối hợp với đơn vị phát hành để xác
định giá chào bán.
Sau khi hoàn tất hồ sơ tổ chức bảo lãnh có thể giúp đơn vị phát hành trình hồ sơ lên Ủy ban chứng
khoán Nhà nước. Tổ chức phát hành cũng có thể gửi hồ sơ đăng kí trực tiếp lên cơ quan quản lí
Nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán. Ngoài ra đơn vị bảo lãnh còn phải nộp hồ sơ
lên Ủy ban chứng khoán Nhà nước. Hồ sơ này bao gồm: bản sao giấy phép hoạt động do Ủy ban
chứng khoán Nhà nước cấp, đơn đăng kí làm bảo lãnh phát hành, hợp đồng giữa các nhà bảo lãnh
phát hành (nếu có tổ hợp bảo lãnh), các tài liệu chứng minh tổ chức bảo lãnh có đủ điều kiện làm
bảo lãnh cho đơn vị phát hành
4.3 Hỗ trợ đơn vị phát hành và tổ chức chào báo chứng khoán ra công chúng
Sau khi hồ sơ đăng kí phát hành được Ủy ban chứng khoán Nhà nước chấp thuận, tổ chức
bảo lãnh sẽ cùng các đại lí phân phối tiến hành xử lí các phiều đặt mua, nhận tiền đặt cọc và nhận
sổ phân phối chứng khoán.
Vào thời điểm khóa sổ các tổ chức bảo lãnh có nghĩa vụ thanh toán cho tổ chức phát hành
giá trị chứng khoán theo giá chào bán trừ đi hoa hồng bảo lãnh. Tổ chức bảo lãnh có nghĩa vụ
thanh toán cho tổ chức phát hành vào ngày khóa sổ ngay khi chưa hoàn thành việc phân phối
chứng khoán
4.4 Bình ổn và điều hòa thị trường
Các tổ chức phát hành có thể gặp khó khăn trong việc phân phối chứng khoán nếu giá chứng

khoán đó trên thị trường giảm xuống dưới mức giá chào bán trước khi hoàn tất việc phân phối
chứng khoán ra công chúng. Để giảm thiểu khó khăn này các tổ chức bảo lãnh chính có thể ổn
định giá bằng cách mua chứng khoán vào tài khoản của tổ hợp.
Công tác bình ổn giá có thể thực hiện trên bất kì thị trường nào mà chứng khoán chào bán
được giao dịch. Khi thực hiện mua để ổn định, người mua phải thông báo cho bên nhận lệnh rằng
việc mua này nhằm mục đích ổn định. Tổ hợp bảo lãnh chỉ được đặt mua để ổn định trên thị
trường với cùng mức giá. Trong quá trình bình ổn giá, thành viên của tổ hợp bảo lãnh phát hành
thường bị cấm bán cổ phiếu dưới giá chào bán trong một khoảng thời gian nhất định sau thời điểm
kết thúc việc chào bán, phân phối cổ phiếu ra công chúng và sau khi tổ hợp bảo lãnh phát được
Nhóm I – K41DQ2 Page 13 of 30 Hà nội, tháng 08 năm 2011
Tiểu luận : Kinh doanh Chứng khoán.
giải thể. Sau thời hạn này, thành viên tổ hợp bảo lãnh phát hành có thể bán cổ phiếu theo bất kì giá
nào.
5. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán tại công ty chứng
khoán.
5.1. Nhân tố bên ngoài
5.1.1. Điều kiện kinh tế trong nước:
Là một yếu tố rất quan trọng cho sự phát triển của thị trường chứng khoán. Nền kinh tế đất
nước có phát triển thì sẽ có điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của thị trường chứng khoán, sẽ
nhanh chóng áp dụng được các mô hình quản lý, khoa học kỹ thuật của các nước đi trước… tiết
kiệm được chi phí, thời gian nghiên cứu. Do đó, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển ổn định
và bền vững của thị trường chứng khoán. Thị trường chứng khoán phát triển thì các công ty chứng
khoán sẽ có điều kiện thuận lợi hơn trong việc phát triển các nghiệp vụ của mình, phát triển hoạt
động bảo lãnh phát hành chứng khoán giúp cho các tổ chức phát hành phát hành đạt hiệu quả cao
nhất.
5.1.2. Môi trường pháp lý
Thị trường chứng khoán Việt Nam là thị trường còn rất non trẻ mới đi vào hoạt động được
vài năm gần đây, vì vậy sẽ không thể tránh khỏi các văn bản pháp lý, quy định của các cơ quan
quản lý, chính phủ còn nhiều thiếu sót và chưa chính xác. Do đó, hạn chế sự phát triển của thị
trường chứng khoán đất nước yêu cầu đòi hỏi cần phái có một khung pháp lý phù hợp, thúc đẩy sự

phát triển của thị trường chứng khoán và hoạt động bảo lãnh phát hành của các CTCK.
5.1.3. Trình độ quản lý, khoa học công nghệ
Trình độ quản lý, khoa học công nghệ cao, hiện đại sẽ là một điều kiện rất thuận lợi cho sự
phát triển của thị trường chứng khoán. Các hoạt động của công ty chứng khoán hoạt động gần như
độc lập với nhau và có khả năng tự quyết định hoạt động của mình vì thế cần phải có sự quản lý và
khoa học công nghệ hiện đại giúp cho hoạt động của các công ty chứng khoán hoạt động có hiệu
quả.
5.1.4.Khách hành và đối thủ cạch tranh
Khách hành của các tổ chức bão lãnh phát hành là các tổ chức phát hành chứng khoán vì vậy
muốn hoạt động bảo lãnh phát hành đạt hiệu quả thì các tổ chức bảo lãnh phải hiểu hoạt động của
các tổ chức phát hành và đối thủ cạnh tranh trong hoạt động đó.
5.2. Nhân tố bên trong:
5.2.1. Nhân tố về khả năng tài chính
Khả năng tài chính là một nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng đến hoạt độcủa CTCK, CTCK
sẽ hoạt động một số hoặc tất cả các nghiệp vụ là tuỳ thuộc vkhả năng tài chính của công ty. Thông
Nhóm I – K41DQ2 Page 14 of 30 Hà nội, tháng 08 năm 2011
Tiểu luận : Kinh doanh Chứng khoán.
thường các CTCK thường phát triển chmình một thế mạnh riêng trên thị trường nhằm tận dụng có
hiệu quả nhất khả năng tài chính của chính công ty và thế mạnh do mình tạo ra.
5.2.2. Nhân tố về nhân sự, năng lực chuyên môn và tổ chức quản lý
Đây là nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến các hoạt động của CTCK, bởi năng lực
chuyên môn của nhân viên và tổ chức quản lý ảnh hưởng trực tiếp đến hình ảnh của chính công ty,
công ty muốn hoạt động có hiệu quả thì không những cần phải có khả năng tài chính vững mạnh
mà còn cần phải có được một đội ngũ cán bộ có năng lực chuyên môn và tổ chức quản lý khoa
học, hiệu quả

READ  Người Chơi Chứng Khoán Giỏi Nhất Việt Nam Vào Thời Điểm Hiện Tại?

Nhóm I – K41DQ2 Page 15 of 30 Hà nội, tháng 08 năm 2011
Tiểu luận : Kinh doanh Chứng khoán.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH PHÁT HÀNH CHỨNG KHOÁN
CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM.

I. Tổng quan về tình hình kinh doanh của công ty.
Công ty chứng khoán Ngân hàng ĐT & PT Việt Nam được thành lập ngày 07 tháng 07 năm
2000, Công ty Chứng khoán Ngân hàng ĐT & PT Việt Nam (BSC) vinh dự trở thành Công ty
chứng khoán đầu tiên trong ngành ngân hàng tham gia kinh doanh trong lĩnh vực chứng khoán và
cũng là một trong hai công ty chứng khoán đầu tiên tại Việt Nam.
Ban đầu vốn điều lệ là 300 tỷ đồng tăng lên 700 tỷ đồng ( năm 2007).Tính đến cuối năm
2009 tổng tài sản của BSC đã là 3.897 tỷ đồng, trong đó vốn điều lệ là 700 tỷ đồng, đứng thứ ba
TTCK Việt Nam. Trong đó tài sản ngắn hạn là 3.698 tỷ đồng chiếm 95% trong tổng tài sản, tài
sản dài hạn là 200 tỷ đồng chiếm 5% trong tổng tài sản. Tỷ trọng nguồn vốn ngắn hạn / tài sản
ngắn hạn của Công ty là 85%, tỷ lệ vốn khả dụng của Công ty là 21%. Ngoài số vốn hiện có, Công
ty có thể huy động vốn từ hoạt động kinh doanh vốn và hoạt động đầu tư tự doanh.
Từ đến năm 2007, doanh thu của BSC đạt gần 100 tỷ đồng, tăng 51% so với mức thực hiện
cả năm 2006. Trong đó, thu phí môi giới đạt gần 42 tỷ đồng, gấp 6,8 lần so với cùng kỳ năm trước
và gấp 2,3 lần so với mức thực hiện của năm 2006. Lợi nhuận trước thuế của công ty 6 tháng đầu
năm đạt 62 tỷ đồng, gấp 3 lần so với cùng kỳ năm trước và xấp xỉ bằng mức thực hiện cả năm
2006. Năm 2007 BSC hiện giữ vững thị phần môi giới ở mức 14-16% so với tổng giá trị giao dịch
của toàn thị trường. Đây là lần tăng vốn điều lệ thứ hai của BSC trong năm 2007. Do nền kinh tế
suy thoái toàn cầu, suy giảm nền kinh tế trong nước , TTCK ảm đạm và sụt giảm mạnh , tính đến
cuối năm 2008 trong khi vốn điều lệ của Công ty la 700 tỷ đồng BSC chỉ còn vẻn vẹn 274 tỷ đồng
vốn chủ sở hữu do khoản lỗ lên đến 554 tỷ đổng, tổng các khoản trích lập dự phòng giảm giá của
BSC là gần 633.5 tỷ đồng. Tuy nhiên, tỷ lệ vốn /vốn điều lệ của BSC chỉ là 79.16%.
Bảng 1: Doanh thu của BSC.
CTCK VĐL
VCSH Doanh thu LNST
LNVĐL
Trích lập
dự phòng
2007 2008 2007 2008
BSC 700 274.287 306.146 478.923 114.32 -554.088 -79.16% 633.497
Nguồn: công ty chứng khoán BSC.

Sau năm 2008 với hoạt động kinh doanh không mấy khả quan của Công ty,một năm kinh
doanh thua lỗ do ảnh hưởng của suy thoái toàn cầu, TTCK sụt giảm, ảm đạm. BSC với khoản lỗ
lên tới 554 tỷ đồng trong khi vốn điều lệ của Công ty là 700 tỷ đồng, tỷ lệ vốn/ vốn điều lệ đạt
79.16% BSC cũng chưa phải là Công ty chứng khoán có mức thua lỗ lớn nhất. Sau thất bại của
năm 2008 Công ty từng bước củng cố và phát triển với đội ngũ cán bộ trẻ, năng động , có trình độ,
có tinh thần học hỏi cao. Để tăng tính cạnh tranh cho các hoạt động của công ty , công ty thực hiện
các sản phẩm dịch vụ mới. Năm 2009 đánh dấu một bước phát triển mới, đó là việc đưa hệ thống
Nhóm I – K41DQ2 Page 16 of 30 Hà nội, tháng 08 năm 2011
Tiểu luận : Kinh doanh Chứng khoán.
giao dịch TPCP chuyên biệt HNX vào hoạt động ngày 24/09/2009 phục vụ khách hàng là các tổ
chức tài chính lớn cũng như các công ty chứng khoán chưa là thành viên thị trường như Habubank,
Seabank,…. Bước đầu, doanh thu hoạt động môi giới trái phiếu trên HNX là 84 triệu đồng. Ngoài
ra , công ty còn tham gia test và chính thức triển khai giao dịch trực tuyến với sở giao dịch chứng
khoán thành phố Hồ Chí Minh ( HOSE )vào ngày 12/01/2009, tham gia Test và khai trương vận
hành TTCK công ty đại chúng chưa niêm yết ( upcom) vào ngày 24/06/2009.
Việc ra đời trang Web mới của Công ty nhằm nâng cao lượng trang thông tin điện tử của
Công ty, cung cấp cho khách hàng thông tin cập nhật mới nhất về tình hình kinh tế, thị trường tài
chính nói chung và TTCK nói riêng trên thế giới cũng như tại Việt Nam; cung cấp các dịch vụ trực
tuyến tiện ích và chất lượng nhất, Công ty đã kết hợp với bên tư vấn triển khai kế hoạch nâng cấp
trang Web Công ty , đã hoàn thành 90% theo tiến độ ( xây dựng Website và nội dung của các
trang). Bước đầu đã đưa trang WEB mới hoạt động trong tháng 11/2009. Trong tháng 12/2009,
tiếp tục hoàn tất xây dựng trung tâm dữ liệu tại BSC và triển khai trang giao dịch mua bán cổ
phiếu trực tuyến. Phát triển trang Web mới của Công ty thành công cụ hỗ trợ đắc lực cho các hoạt
động kinh doanh.
Song song với nhiệm vụ kinh doanh , công tác xây dựng và hoàn thiện các quy chế , quy
trình được đặt lên như nhiệm vụ hàng đầu của Công ty. Cùng với đó là đào tạo và quản trị nhân lực
– là một hoạt động thiết yếu của Công ty nhằm nâng cao năng lực cán bộ, nâng cao năng lực cạnh
tranh của công ty sẵn sàng đáp ứng mọi yêu cầu của thị trường. BSC đã phối hợp với Công ty
Chứng khoán Okasan cảu Nhật Bản triển khai cà hoàn thành tốt chương trình hợp tác và đào tạo
giữa hai bên , tiếp thu được nhiều kinh nghiệm về giá trị các chuyên đề nghiệp vụ tư vấn, thương

mại, cổ phiếu , M & A, bảo lãnh phát hành, phát triển dịch vụ khách hàng , đồng thời tạo động lực
tốt cho cán bộ xây dựng và triển khai các nghiệp vụ , sản phẩm mới, hiện đại.
Hiện đại hóa công nghệ thông tin – nền tảng hỗ trợ nâng cao chất lượng, năng lực cạnh tranh
cho các hoạt động dịch vụ đó là việc triển khai thành công hệ thống giao dịch ko sàn với sàn giao
dịch chứng khoán thành phố Hồ chí Minh(HOSE), sàn giao dịch upcom và trái phiếu chuyên biệt.
Về kết quả kinh doanh của Công ty:
Lợi nhuận trước thuế năm 2009 đạt 399 tỷ đồng
Bảng 2: Kết quả kinh doanh
Nhóm I – K41DQ2 Page 17 of 30 Hà nội, tháng 08 năm 2011
Tiểu luận : Kinh doanh Chứng khoán.

READ  Phần Mềm Bảng Giá Chứng Khoán (Nhanh Nhất), Bảng Giá Chứng Khoán

Nguồn: công ty chứng khoán BSC
Trong đó:
– Hoạt động môi giới của công ty : sự cạnh tranh cao của các Công ty chứng khoán trên thị trường
với sự hiện diện của gần 100 Công ty chứng khoán, mọi biện pháp nâng cao thị phần bao gồm cả trái
với quy định của Ủy ban chứng khoán được các Công ty đưa ra như bán khống, cho vay chứng khoán,
tiền T+2, nhằm thu hút nhà đầu tư đã tác động không nhỏ đến thị phần môi giới của Công ty.
• Doanh thu đạt 58 tỷ đồng đạt 110% so với kế hoạch , tăng trưởng 125% so với năm 2008 đạt
46,4 tỷ đồng.
• Lợi nhuận từ hoạt động môi giới của công ty là 30 tỷ đồng , tăng 120% so với năm 2008 đạt 25
tỷ đồng. Thu dịch vụ ròng là 42.672 triệu đồng đạt 101% so với kế hoạch, tăng 120 % so với năm
2008.
• Thị phần môi giới :năm 2009 đạt 2.3% đạt 70% so với kế hoạch, giảm 1.1% so với năm 2008
là 3.4%, đứng thứ 8/10 Công ty chứng khoán có thị phần lớn nhất tại Việt Nam.
• BSC đã bước đầu tổ chức thành công buổi Hội nghị tư vấn đầu tư với khách hàng với chủ đề: “
Buổi gặp gỡ giữa các chuyen gia phân tích độc lập của BSC với nhà đầu tư ” nhằm thúc đẩy sự
hợp tác của BSC và các nhà đầu tư, đồng thời tổ chức các buổi hướng dãn giao dịch tại sàn Upcom
tới các doanh nghiệp, nâng cao công tác dịch vụ khách hàng lên tầm cao mới.
– Hoạt động kinh doanh vốn : năm 2009 doanh thu đạt 315 tỷ đồng chiếm 50% tổng doanh thu. Lợi
nhuận từ hoạt động kinh doanh vốn bao gồm repo ( giao dịch mua và bán chứng khoán), tiền gửi là 70

tỷ đồng.
– Hoạt động đầu tư tự doanh : BSC đã cơ cấu danh mục đầu tư hướng tới mục tiêu an toàn, phản
ứng linh hoạt với thị trường. BSC đã cơ cấu danh mục đầu tư hướng tới mục tiêu an toàn, phản
ứng linh hoạt với thị trường. Lượng tiền mặt rút ra khỏi thị trường từ cơ cấu danh mục năm 2009
là 1.133 tỷ đồng. Tỷ trọng cổ phiếu – tiền 1:3. Lợi nhuận từ hoạt động tự doanh trái phiếu là 14 tỷ
đồng , từng bước mở rộng thị phần , đối tác giao dịch trái phiếu và nâng cao vị thế của BSC.
– Hoạt động tư vấn, bảo lãnh phát hành : số hợp đồng tư vấn của công ty trong năm 2009 thực hiện
là 65 tăng gấp 3 lần so với năm 2008 chỉ đạt 22 hợp đồng bao gồm: tư vấn CPH, tư vấn tài chính, tư vấ
niêm yết, tư vấn đại hội cổ đông.
II. Hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán của công ty BSC.
1. Thực trạng hoạt động bảo lãnh phát hành của BSC.
Nhóm I – K41DQ2 Page 18 of 30 Hà nội, tháng 08 năm 2011
Chỉ tiêu 31/12/2008 31/12/2009
VNINDEX 305.62 484.77
Trích lập DPRR 581.778 172.647
Hoàn nhập DPRR 389.131
Lợi nhuận các hoạt động 78.408 134.659
Lợi nhuận trước thuế 515.363 399.018
Tiểu luận : Kinh doanh Chứng khoán.
Sự ra đời của TTCK Việt Nam như là một xu thế của thời đại, muốn nền kinh tế của đất
nước phát triển thì nhất thiết không thể thiếu hoạt động của TTCK vì TTCK là một kênh huy động
vốn hiệu quả nhất của nền kinh tế thị trường. TTCK Việt Nam mới chỉ ra đời và đi vào hoạt động
từ năm 2000, qua 10 năm phát triển nhưng thị trường đã có những bước phát triển rất đáng kể,
từng bước vững chắc khảng định vai trò, tầm quan trọng của mình trong nền kinh tế.
Hiện nay, trên TTCK Việt Nam đã có rất nhiều công ty hoạt động. Do phạm vi hoạt động
khác nhau, đồng thời mỗi công ty lại học tập cách thức tổ chức từ các nước khác nhau trên thế giới
nên gần như không có điểm chung nào trong tổ chức của các công ty chứng khoán. Nhưng hầu hết
các công ty chứng khoán đều tham gia hoạt động các hoạt như là mối giới chứng khoán, tự doanh
chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán…
Trong đó hoạt động bảo lãnh phát hành là hoạt động bảo lãnh cho các công ty, các tổ chức

kinh tế phát hành cổ phiếu, trái phiếu ra thị trường, cung cấp các dịch vụ giúp các tổ chức phát
hành chứng khoán chuẩn bị các điều kiện và thủ tục trước khi chào bán chứng khoán và cuối cùng
giúp tổ chức phát hành thực hiện việc phân phối chứng khoán cho công chúng đầu tư trên thị
trường.
Công ty chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam được phép hoạt động trên
tất cả các nghiệp vụ của một công ty chứng khoán và hoạt động bảo lãnh phát hành của công ty
cũng chiếm một tỷ trọng nhất định trên thị trường đem lại cho công ty rất nhiều khách hàngvà lợi
nhuận. Điều đó được thể hiện trên bảng số liệu số liệu sau:
Bảng 3 : Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2006
Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006
1 2 3
A/Doanh thu 69.052.305.913 200.538.032.879
I. Thu từ hoạt động kinh doanh 69.052.305.913 200.538.032.879
1. Doanh thu từ hoạt động KD CK 62629.151.223 195.455.006.759
Doanh thu môi giới Ck cho người đầu tư 1.912.046.590 18.543.484.487
D.thu hoạt động tự doanh chứng khoán 47.599.707.163 162.677.629.438
Doanh thu QLDMDT – 76.221.135
Doanh thu bảo lãnh phát hành 5.038.007.976 7.087.715.250
Doanh thu tư vấn đầu tư CK 2.385.908.438 3.165.586.550
Hoàn nhập dự phòng các khoản trích trước 9.002.600 22.386.000
Doanh thu về vốn kinh doanh 5.585.565.947 3.764.797.329
2. Thu lãi đầu tư 6.423.154.690 5.083.026.120
3. Các khoản giảm trừ doanh thu – –
II. Thu nhập ngoài hoạt động kinh doanh – –
1. Chênh lệch lãi nhượng bán, thanh lý TSCĐ – –
Nhóm I – K41DQ2 Page 19 of 30 Hà nội, tháng 08 năm 2011
Tiểu luận : Kinh doanh Chứng khoán.
2. Thu bảo hiểm và đền bù tổn thất – –
3. Thu nợ phải thi đã xử lý – –
4. Thu nhập khác – –

B/ Chi phí 52.968.209.582 135.471.770.539
I. Chi phí hoạt động kinh doanh 52.970.359.582 135.456.770.539
1. Chi phí hoạt động kinh doanh 49.164.164.253 131.584.107.961
1.1. Chi phí môi giới CK 86.676.542 3.303.835.769
1.2. Chi phí hoạt động tự doanh CK 7.760.000 2.158.633.285
1.3. Chi phí quản lý DMĐT – 3.000.000
1.4. Chi phí bảo lãnh, phát hành CK 183.054.900 207.286.074
1.5. Chi phí tư vấn cho người đầu tư – –
1.6. Chi phí lưu ký chứng khoán – 142.764.120
1.7 Chi phí( dự phòng, trích trước…) – 618.105.220
1.8 Chi phí vốn kinh doanh 44.458.030.498 115.878.244.420
1.9 Chi phí trực tiếp hoạt động KD CK 4.428.642.313 9.272.239.073
2. Chi phí quản lý doanh nghiệp 3.806.195.329 3.872.662.578
II. Chi Phí ngoài hoạt động kinh doanh (2.150.000) 15.000.000
C/ Xác định kết quả kinh doanh 16.084.096.331 65.066.262.340
1. kết quả từ hoạt động kinh doanh CK 16.081.946.331 65.081.262.340
2. kết quả từ hoạt động KD ngoài CK 2.150.000 (15.000.000)
Nguồn: Công ty chứng khoán BSC
Bảng 4 : Kết quả kinh doanh năm 2009
Chỉ tiêu Năm Thực hiện
2009
% thực hiện
so với 2008
KH 2009 % thực hiện
so với KH
Chỉ tiêu số lượng
Tổng doanh thu 544.124 598.205 110%
Hoạt động môi giới 26.123 58.256 223% 57.868 101%
Doanhthutừhoạtđộng đầu
tư kinh doanh

Xem thêm: Những Website Giúp Bạn Kiếm Tiền Deviantart, Những Website Giúp Bạn Kiếm Tiền Từ Ảnh

– Hoạt động tự doanh
– Doanh thu vốn kinh
doanh
– Thu lãi đầu tư
512.236
20.234
400.000
80.868
534.484
164.368
301.875
48.286
104%
Hoạt động tư vấn, bảo
lãnh phát hành
3.212 5.600 174%
Lưu ký, khác 2.419 4.573 189%
Nhóm I – K41DQ2 Page 20 of 30 Hà nội, tháng 08 năm 2011
Tiểu luận : Kinh doanh Chứng khoán.
Thu dịch vụ ròng 18.558 42.672 229% 42.000 101%
Chỉ tiêu chất lượng
Thị phần môi giới theo giá
trị giao dịch thực hiện tại
công ty
3.2% 2.34% 73% 3.2% 70%
Chỉ tiêu hiệu quả
– Lợi nhuận trước thuế
– ROE
(515.363) 399.018
– 71.15%

390.000
Nguồn: Công ty chứng khoán BSC
Nhìn vào bảng cơ cấu doanh thu của BSC ta có thể dễ dang thấy được: Tuy số liệu còn khá
khiêm tốn so với các hoạt động khác của Công ty nhưng hoạt động bảo lãnh đã có đóng góp không
nhỏ đới với hoạt động kinh doanh của Công ty,hoạt động bảo lãnh phát hành giảm xuống và ngày
càng giảm do Công ty tập trung vào hoạt động đầu tư kinh doanh, năm 2008 đạt 3.212 triệu động
chiếm 0,6% tổng doanh thu của công ty, đến năm 2009 đạt 5.600 triệu đồng chiếm 0,93% tổng
doanh thu của Công ty giảm so với giai đoạn 2005 – 2006, năm 2005 hoạt động bảo lãnh đạt
5.038.007.976 đồng chiếm 7,3 % tổng doanh thu đến năm 2006 đạt 7.087.715.250 đồng chiếm
3,5% tổng doanh thu. Sở dĩ có sự suy giảm như vậy là do điều kiện của thị trường, sự chuyển
hướng hoạt động của công ty bắt đầu quan tâm tới một số mảng hoạt động khác đồng thời tập
trung vào hoạt động tự doanh chứng khoán nhằm tạo ra một thế mạnh của công ty trên thị trường
cho nên doanh thu của công ty đã tăng lên rất cao, thị phần của doanh thu từ hoạt động bảo lãnh
phát hành đã giảm xuống 0,6% tổng doanh thu của công ty nhưng số doanh thu của hoạt động này
vấn là đóng góp vào nguồn thu của công ty, đạt 5.600 triệu đồng.
Hoạt động bảo lãnh phát hành là một hoạt động có vai trò rất quan trọng tới sự phát triển của
thị trường chứng khoán Việt Nam, thị trường muốn phát triển ngày càng lớn mạnh thì các hoạt
động phát hành cổ phiếu phải được diễn ra và thực hiện thành công đợt chào bán chứng khoán phát
hành đó. Vì vậy, hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán của BSC cần phải được quan tâm phát
triển hơn nhằm nâng cao vai trò, vị thế và thế mạnh ho

Trả lời

Back to top button