Nghiên Cứu Về Thị Trường Công Cụ Nợ Tại Việt Nam, Tổng Quan Về Hệ Thống Tài Chính

Bài viết này nghiên cứu sự phát triển thị trường vốn Việt Nam trong điều kiện hội nhập tài chính ASEAN, bằng phương pháp thống kê, mô tả, đánh giá, thu thập số liệu từ Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các tổ chức quốc tế và các nghiên cứu liên quan trong giai đoạn 2010-2019.

Chính sách thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn nhằm phát triển thị trường vốn cho khởi nghiệp ở Việt Nam

Trên cơ sở đó, tác giả khái quát tình hình phát triển thị trường vốn của Việt Nam trong khuôn khổ hội nhập tài chính ASEAN, phân tích cơ hội, thách thức khi hội nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN, từ đó đưa ra triển vọng của thị trường vốn Việt Nam khi hội nhập tài chính.

Đang xem: Nghiên cứu về thị trường công cụ nợ tại việt nam

1. Khái quát về hội nhập tài chính trong Cộng đồng kinh tế ASEAN

Kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á (1997), các nước ASEAN đã có những bước tiến lớn trong việc củng cố vị thế và khuôn khổ kinh tế vĩ mô. Khu vực này đã chứng kiến sự gia tăng của dòng chảy thương mại đi kèm dòng vốn của cả khu vực ASEAN và với phần còn lại của châu Á, thế giới. Trong bối cảnh đó, việc thành lập Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) là xu hướng tất yếu. AEC được xem như là giải pháp đánh giá toàn diện cho các rủi ro cho cơ sở hạ tầng tài chính của các nước thành viên, cũng như cung cấp nguồn lực phát triển và dự phòng trước các cú sốc tài chính cho các nước nội khối.

AEC chú trọng tìm cách đạt được một hệ thống tài chính khu vực được tích hợp tốt và hoạt động hiệu quả theo 3 mục tiêu chiến lược, đó là: Hội nhập tài chính, tài chính toàn diện và ổn định tài chính, với 3 lĩnh vực xuyên suốt (Tự do hóa tài khoản vốn, hệ thống thanh toán và xây dựng năng lực). Cùng với đó, các chương trình hành động cũng được chi tiết hóa như sau:

– Tự do hóa dịch vụ tài chính: Việc loại bỏ dần các hạn chế đối với các ngân hàng ASEAN, các công ty bảo hiểm và các công ty đầu tư trong việc cung cấp dịch vụ tài chính trong các quốc gia thành viên ASEAN sẽ được thực hiện.

– Tự do hóa tài khoản vốn: ASEAN đặt mục tiêu đạt được dòng vốn tự do hơn bằng cách loại bỏ dần các hạn chế đối với các giao dịch ngoại hối như tài khoản thanh toán, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), các danh mục đầu tư và các luồng khác, trong khi áp dụng các biện pháp bảo vệ đầy đủ.

– Phát triển thị trường vốn: ASEAN cũng tập trung phát triển, liên kết và hội nhập sâu hơn thị trường vốn khu vực bằng cách xây dựng năng lực và đặt cơ sở hạ tầng dài hạn để đạt được sự hội nhập của thị trường vốn trong ASEAN.

– Hài hòa hệ thống thanh toán, quyết toán: ASEAN đặt mục tiêu thiết lập một hệ thống thanh toán ASEAN an toàn, sáng tạo, hiệu quả.

– Tài chính toàn diện: ASEAN cân nhắc lựa chọn chính sách và phối hợp các nước thành viên để đưa tài chính toàn diện vào ASEAN trong các lĩnh vực trung gian tài chính và kênh phân phối để bảo vệ người tiêu dùng.

– Xây dựng năng lực: ASEAN nhận thấy sự cần thiết phải cung cấp năng lực và các sáng kiến để thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các nền kinh tế trong ASEAN.

Xem thêm: 50+ Stt Thả Thính Tết, Stt Chúc Tết Hay Ý Nghĩa 2021, Database Error

Có thể thấy, việc phát triển thị trường vốn là một chiến lược rất quan trọng của AEC, bởi tăng cường hội nhập và mở cửa hệ thống tài chính ASEAN là một nhu cầu tất yếu và cấp thiết đối với sự phát triển của các nước trong khu vực, trong đó có Việt Nam.

2. Phát triển thị trường vốn của Việt Nam trong khuôn khổ hội nhập tài chính ASEAN

Trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế, thị trường vốn Việt Nam đã đạt những thành tựu đáng kể nhìn từ góc độ thể chế, tạo lập thị trường, phát triển sản phẩm và đóng góp tích cực cho quá trình cải cách và phát triển kinh tế – xã hội. Cụ thể:

*

Một là, đã và đang hình thành, tiến tới định hình một thị trường vốn đa dạng, cởi mở hơn và đáp ứng cơ bản tốt hơn cho nhu cầu vốn của nền kinh tế. Nếu như năm 2000, vốn hóa thị trường cổ phiếu là 0,28% GDP, thị trường trái phiếu là khoảng 1% GDP thì đến năm 2019 mức tăng lần lượt của thị trường cổ phiếu và trái phiếu là 72,6% GDP và 40% GDP.

Hai là, số lượng và các thành phần tham gia thị trường ngày càng tăng. Năm 2019, số lượng tài khoản giao dịch chứng khoán là hơn 2,37 triệu, số công ty chứng khoán hoạt động là 82, trong đó có 8 công ty có 100% vốn nước ngoài, Hiệp hội Kinh doanh trái phiếu có 76 hội viên.

Ba là, từng bước hoàn thiện pháp lý cho thị trường theo thông lệ quốc tế, tạo môi trường kinh doanh ổn định nhằm thu hút cả dòng vốn ngoại và nội. Đơn cử như: Năm 2019 đã có thương vụ bán vốn lớn cho nhà đầu tư nước ngoài như: Tỷ phú Thái Lan mua SABECO gần 5 tỷ USD.

Giai đoạn 2011-2019, thị trường vốn tăng trưởng cao đạt bình quân 35%/năm, đáp ứng bình quân 28% cung ứng vốn cơ bản cho nền kinh. Trong khi đó, thị trường tín dụng vẫn chiếm vị trí chủ đạo trong cung ứng vốn cơ bản cho nền kinh tế, nhưng dự nợ tín dụng chỉ tăng bình quân đạt 15%/năm và tương tương 136% GDP.

Báo cáo của World Bank (2019) về thị trường vốn Việt Nam cho thấy, một quốc gia đang phát triển thường phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn của ngân hàng, ngoài rủi ro kỳ hạn thì còn gây cản trở cho sự phát triển khu vực tư nhân vốn năng động và khó đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng cao cho phát triển kinh tế.

Xem thêm: App Vay Tiền Idong Là Gì ? Vay Tiền Idong Có Tốt Không? Vay Tiền Qua App: Quá Nhanh, Quá Nguy Hiểm

Việt Nam sớm ý thức được tầm quan trọng của các kênh thu hút nguồn vốn tài trợ phi ngân hàng với kỳ hạn dài bằng Quyết định số 128/2007/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển thị trường vốn Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 nhằm thay thế dần các nguồn từ ngân hàng và thu hút thêm các nguồn vốn từ bên ngoài (FDI, FII). Chính phủ Việt Nam bước đầu tập trung vào thị trường trái phiếu, bằng những văn bản định hướng: Quyết định số 1191/QĐ-TTg năm 2017 của Thủ tướng phê duyệt lộ trình phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam giai đoạn 2017-2020, nhằm xây dựng thị trường bền vững hơn để huy động tài chính trung và dài hạn; mở rộng mạng lưới các nhà đầu tư về quy mô và chất lượng…

Trả lời

Back to top button