Một Số Vấn Đề Về Nền Kinh Tế Thị Trường Nói Chung Là Gì ? Kinh Tế Thị Trường Là Gì

MICHAEL WATTS

Michael Watts tốt nghiệp Tiến sĩ Kinh Tế tại Đại học Louisiana năm 1978. Ông hiện là giám đốc Trung Tâm Giáo Dục Kinh Tế và giáo sư Kinh Tế học của Đại học Purdue tại West Lafayette, Indiana. Ông cũng là một biên tập viên cho Tạp Chí Giáo Dục Kinh Tế. Giáo sư Watts đã xuất bản nhiều nghiên cứu thực nghiệm (sử dụng thống kê học) để hướng dẫn sinh viên và sinh viên dự bị học ngành Kinh Tế học và để đánh giá những chương trình giáo dục cũng như phương tiện giáo dục và giảng viên. Những tiểu luận của ông đã xuất hiện trong Tạp Chí Kinh Tế và Thống Kê và Tạp Chí Giáo Dục Kinh Tế và nhiều tạp chí khác. Giáo sư Watts cũng viết nhiều sách giáo khoa về Kinh Tế học cho trình độ đại học và trung học.

Đang xem: Nền kinh tế thị trường nói chung là gì

GIỚI THIỆU

Qua quá trình lịch sử, mỗi xã hội đều đối diện với một vấn đề kinh tế cơ bản là quyết định sản xuất sản phẩm nào và cho ai với những nguồn tài nguyên giới hạn. Trong thế kỷ 20, hai hệ thống kinh tế, một cách tổng quát có thể nói là cạnh tranh nhau, đã đưa ra hai câu trả lời khác nhau: những nền kinh tế chỉ huy điều khiển bởi chính quyền trung ương và những nền kinh tế thị trường dựa trên những công ty tư nhân. Cuối thế kỷ 20 thì người dân trên toàn thế giới đã thấy rõ ràng nền kinh tế trung ương chỉ huy đã không làm phát triển được nền kinh tế, không đạt đến mức thịnh vượng hay ngay cả không cung cấp được sự an sinh kinh tế cho người dân.

Thế mà những nguyên tắc căn bản và cơ cấu của nền kinh tế thị trường vẫn còn chưa quen thuộc hay vẫn còn bị hiểu lầm bởi nhiều người, dù những sự thành công của nó đã thể hiện ở nhiều xã hội khác biệt hẳn nhau, từ Tây Âu tới Bắc Mỹ và Á Châu. Một phần là vì nền kinh tế thị trường không phải là một chủ thuyết mà chỉ là một tập hợp những hoạt động và những định chế đã được thử thách với thời gian về cách thức theo đó những cá nhân và xã hội có thể sống và phát triển phồn vinh về phương diện kinh tế. Bản chất tiên quyết của những nền kinh tế thị trường là phân quyền, uyển chuyển, thực tiễn và thay đổi được. Yếu tố trung tâm của những nền kinh tế thị trường nằm ở chỗ nó không có trung tâm. Thật thế, một trong những ẩn dụ cho thị trường tư nhân được gọi là thị trường của “bàn tay vô hình.”

Những nền kinh tế thị trường có thể là thực tiễn nhưng nó cũng dựa trên nguyên tắc cơ bản là quyền tự do cá nhân: khách hành tự do chọn lựa trong số những sản phẩm hay dịch vụ cạnh tranh nhau; nhà sản xuất tự do khai lập hay mở mang cơ sở kinh doanh và chấp nhận những điều may rủi hay thành công; công nhân viên tự do lựa chọn nghề nghiệp, gia nhập công đoàn lao động hay đổi qua các hãng xưởng khác.

Chính những sự khẳng định của tự do, may rủi và cơ hội này đã kết hợp những nền kinh tế thị trường và nền chính trị dân chủ lại với nhau.

Nền kinh tế thị trường không hẳn là không có những điều bất quân bình và những sai trái – cũng nhiều chuyện nghiêm trọng – nhưng điều không chối cãi được là những cơ sở tư nhân hiện dại và tinh thần doanh nghiệp, cộng với nền dân chủ chính trị đã cung ứng yếu tố tốt nhất để bảo vệ tự do và cung ứng những đường lối rộng rãi nhất dẫn đến sự phát triển kinh tế và thịnh vượng cho tất cả mọi người.

KINH TẾ CHỈ ĐẠO VÀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

Hiện nay, những sản phẩm như bánh mì, thịt, quần áo, tủ lạnh và nhà cửa được sản xuất và bán ra ở mọi quốc gia trên thế giới. Các phương pháp sản xuất và những nguồn nguyên liệu dùng để tạo ra những sản phẩm đó tương tự nhau trong những quốc gia khác nhau – thí dụ như bánh mì do thợ nướng bánh làm từ bột và nước, thường được thêm vào muối, đường và bột nổi rồi được nướng trong lò. Khi bánh mì được nướng xong, những ổ bánh được bán cho khách tiêu thụ trong những cửa hàng trông rất gần giống nhau, ít ra là ở bề mặt, ngay cả trong những quốc gia với những hệ thống kinh tế khác biệt nhau.

Quyết Định Chỉ Đạo Về Quần Áo

Mặc dù có những điểm tương tự, nếu chúng ta so sánh những nền kinh tế thị trường của Bắc Mỹ, Tây Âu và Nhật Bản với những nền kinh tế chỉ huy thấy ở Liên Xô ngày trước, Đông Âu và những phần của Á Châu trong nửa thế kỷ vừa qua, những quá trình dùng để quyết định sản phẩm nào được sản xuất ra, cách sản xuất, giá cả hàng hóa và ai sẽ tiêu thụ chúng trái ngược nhau rất rõ rệt. Để thấy những điều này rõ ràng hơn, chúng ta thử xem qua những cách quyết định về sản xuất và giá cả trong hai hệ thống kinh tế đó trong một sản phẩm tiêu biểu như áo mặc.

Trong những nền kinh tế chỉ huy, những ủy ban của chính quyền gồm những nhà lập kế hoạch kinh tế, những chuyên viên về sản xuất và những viên chức chính trị lập ra những mức độ về sản xuất hàng hóa và chỉ định những hãng xưởng nào sẽ sản xuất ra những hàng hóa đó. Những ủy ban kế hoạch trung ương cũng quy định giá cả của các loại quần áo và tiền lương công nhân viên làm ra chúng. Toàn bộ là các quyết định trung ương quy định về số lượng, phân loại và giá cả của quần áo và nhiều thứ hàng hóa khác.

Có thể tiên đoán được là những sản phẩm dù có ít kiểu mẫu để lựa chọn này sẽ được bán hết nhanh chóng ra khỏi những quầy hàng. Tại sao? Vì có lẽ các cơ sở sản xuất không đáp ứng đủ chỉ tiêu sản xuất, hay vì những nhóm kế hoạch trung ương đã ước lượng không đủ số áo mà dân chúng cần mua ở những giá cả mà họ dự định sẵn. Dù lý do nào đi nữa, những sự khan hiếm sẽ tiếp tục trừ phi những người làm kế hoạch này cho gia tăng số lượng hàng hóa hay gia tăng giá cả hay là gia tăng cả hai.

Khi dân số trong những trong những vùng có nền kinh tế chỉ huy gia tăng cùng với số lượng và mức độ phức tạp của những sản phẩm mới, những người làm kế hoạch càng ngày gặp nhiều khó khăn hơn để tránh không để xảy ra sự khan hiếm của nhiều mặt hàng mà khách hàng muốn có hay loại trừ sự ứ đọng của những thứ không cần. Với nhiều sản phẩm hơn, dân số nhiều hơn và kỹ nghệ sản xuất thay đổi nhanh chóng, những nhà làm kế hoạch trung ương đối diện với một số lượng to tát những sự quyết định cần có và ở nhiều chỗ, nhiều phương diện mà kế hoạch toàn bộ của nền kinh tế quốc gia có thể bị sai lầm.

Hiện tượng này không xảy ra trong những nền kinh tế thị trường, vì hệ thống kinh tế vận hành theo một phương cách khác hẳn. Trước hết, không có bộ trưởng nào của chính quyền quyết định bao nhiêu chiếc áo sẽ được sản xuất hay kiểu nào, màu nào. Bất kỳ ai, cá nhân hay cơ sở nào – cũng có thể sản xuất và bán các loại áo trong nền kinh tế thị trường, và nhiều người sẽ kinh doanh như thế nếu họ tin tưởng rằng họ có thể bán giá đủ cao để bù vào chi phí sản xuất – và kiếm tiền nhiều hơn làm công chuyện khác. Điều đó dẫn đến sự cạnh tranh trực tiếp giữa nhiều hãng xưởng chế tạo và bán sản phẩm, và sự cạnh tranh đó là một trong những lý do chính yếu đưa đến nhiều kiểu, nhiều loại vải vóc, và nhãn hiệu quần áo mà khách hàng có thể lựa chọn trong những nền kinh tế thị trường.

Dĩ nhiên, nếu những khách hành quyết định chỉ mua một kiểu áo quần nào đó tháng này qua tháng kia, năm này qua năm nọ, những nhà sản xuất sẽ nhận thấy điều đó ngay và không có lý do gì lại tiếp tục sản xuất những thứ khác. Nhưng điều đó không xảy ra dễ dàng khi dân chúng được có quá nhiều kiểu quần áo để lựa chọn.

Giá Cả Của Áo

Một điều then chốt về những nền kinh tế thị trường là giá cả của áo quần và những mặt hàng khác bán trong các cửa hàng không phải được qui định bởi một ủy ban kế hoạch của chính quyền nào cả. Mỗi người bán hàng tự do tăng hay giảm những giá cả tùy theo các yếu tố thị trường thay đỗi. Thí dụ như, vào một lúc nào khi một kiểu áo nào đó quá được ưa chuộng và các cửa hàng lo là kiểu áo sẽ bán hết trước khi họ được giao hàng thêm, thì giá cả của kiểu áo đó sẽ tăng lên, ít ra là cho đến đợt giao hàng mới. Sự tăng giá này giải quyết được hai chuyện một lúc: thứ nhất, do giá của kiểu áo này mắc hơn những kiểu áo hay những mặt hàng khác, một số khách hàng sẽ ít lựa chọn mua kiểu áo đó mà mua kiểu khác nhiều hơn. Thứ hai là, công ty sản xuất và cửa hàng bán, chứ không phải là chính quyền sẽ thu nhận giá cao hơn này – giá cao làm tăng lợi nhuận cho những công ty sản xuất và bán kiểu áo đó, giúp cho họ sản xuất và bán nhiều hơn nữa. Những công ty chế tạo sản phẩm khác cũng sẽ nhận thấy lợi nhuận cao của những công ty sản xuất kiểu áo, điều này sẽ đưa đến vài công ty sẽ ngưng sản xuất những loại hàng khác để bắt đầu sản xuất kiểu áo đang được ưa chuộng đó.

Tất cả những lý do này – khách hàng mua ít áo hơn, những công ty đang may áo sẽ sản xuất thêm nhiều áo hơn và những công ty khác cũng quyết định bắt đầu sản xuất áo – chẳng bao lâu sẽ loại trừ bất lỳ sự khan hiếm nào. Nên ghi nhận là không cần ủy ban kế hoạch trung ương ra quyết định nào cả. Thực vậy, quá trình trên xảy ra nhanh chóng hơn, có thể xem như là tự động và chính xác, vì những quyết định của người tiêu thụ và nhà sản xuất được phân quyền ..

Thị Trường

Những giá cả cao hơn của áo tạo thành những động cơ khiến mỗi khách hàng và mỗi nhà sản xuất đáp ứng như vậy, vì quyết định của họ sẽ thu được lợi nhuận nhưng đồng thời cũng có những chi phí và may rủi theo sau. Thí dụ, các khách hàng nếu chịu trả những giá cao hơn vẫn sẽ có được những chiếc áo được ưa chuộng, nhưng để được thế, họ sẽ phải bỏ thêm tiền ra (và bỏ chịu bớt những món hàng hay dịch vụ khác). Còn trên phương diện sản xuất, những công ty may kiểu áo được nhiều khách hàng ưa chuộng có thể bán áo ở các giá cả cao và thu nhiều lợi nhuận. Những những công ty chế tạo những sản phẩm không thiết dụng hay vận hành không hữu hiệu hay bỏ vốn liếng sản xuất quá nhiều sẽ chịu nhiều phần thua lỗ. Dần dà thì họ phải biết học hỏi cách sản xuất và cạnh tranh hữu hiệu – chế tạo ra sản phẩm được khách ưa chuộng và bán được giá cao – nếu không thì sẽ bị phá sản, và người nào khác sẽ dành lấy các cơ sở của họ cùng với những máy móc hay những nguồn tài nguyên khác. Tóm lại, đó là cách mà những động cơ khích lệ kinh tế hoạt động trong một nền kinh tế thị trường.

Quá trình cơ bản trên cũng hoạt động như thế trong nhiều loại thị trường, trong đó cụ thể là mọi loại giá cả được tự do lên xuống, kể cả những giá tiền trả cho sức làm việc của mọi người, cho thức ăn của họ và cho món tiền mà họ để dành hay mượn từ các ngân hàng.

Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường không đưa ra những giải pháp kỳ diệu, và chính quyền cũng đóng vai trò thiết yếu để sửa những sai lầm mà hệ thống các thị trường tư nhân không thể giải quyết được. Hơn nữa, những nền kinh tế thị trường không phải là được miễn nhiễm trước những vấn đề về liên quan đến chính sách công cộng trong nền kinh tế toàn cầu ngày nay – những vấn đề như nạn lạm phát, thất nghiệp, ô nhiễm, nạn nghèo khó và những trở ngại cho nền mậu dịch thế giới. Dầu vậy, nếu so sánh với những tình trạng khan hiếm kinh niên và những sự vô hiệu cố hữu của những nền kinh tế chỉ huy, một hệ thống kinh tế thị trường tự do cung ứng nhiều cơ hội to tát hơn để phát triển kinh tế, tiến bộ kỹ thuật và sự phồn thịnh.

KHÁCH HÀNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

Những khách hàng trong cả hai nền kinh tế thị trường và kinh tế chỉ huy có cùng chung những quyết định: họ mua thức ăn, quần áo, nhà cửa, phương tiện giao thông và giải trí trong phạm vi ngân sách tài chính của mình và mong mỏi có đủ khả năng mua nhiều hơn. Nhưng khách hàng đóng vai trò quan trọng trong sự hoạt động chung của nền kinh tế thị trường hơn là trong nền kinh tế chỉ huy. Thật vậy, những nền kinh tế thị trường thường đuợc mô tả như là hệ thống mà khách hàng có chủ quyền, vì những quyết định tiêu xài hằng ngày của các khách hàng, trong một phạm vi rất lớn, sẽ quyết định những hàng hóa và dịch vụ nào là cần cung cấp cho nền kinh tế. Điều này xảy ra như thế nào?

Mua Cam và Linh Kiện Máy Điện Toán

Giả sử một gia đình – Robert, Maria và hai con – đi chợ mua thức ăn cho bữa cơm chiều. Ban đầu họ dự trù mua gà, cà chua và cam, nhưng các dự tính của họ sẽ bị ảnh hưởng bởi giá cả của những hàng hóa ngoài chợ.

Họ có thể thấy giá cam đã tăng lên. Có nhiều chuyện đã làm giá cam lên cao như khí hậu giá lạnh của những vùng trồng cam đã làm thiệt hại phần lớn vụ thu hoạch. Ảnh hưởng của sự giá lạnh đã làm số lượng cam giảm xuống trong khi số lượng khách hàng vẫn như nhau. Với giá cả cũ – thấp hơn – những người bán hàng sẽ không còn cam để bán cho tới mùa sau. Cho nên, sự tăng giá cam sẽ làm khách hàng giảm thiểu số lượng cam họ mua và khích lệ những nhà sản xuất trồng nhiều cam càng nhanh càng tốt.

Có một trường hợp khác là: các công ty cung cấp hàng có thể chọn phương cách nhập cảng nhiều cam từ nước ngoài. Mậu dịch thế giới, khi được hoạt động với tương đối ít những sự cản trở hay thuế nhập cảng có thể giúp cho người tiêu thụ nhiều sự lựa chọn hơn và làm cho các nhà sản xuất phải cung ứng nhiều mặt hàng với giả cả phải chăng hơn, từ các trái cam cho đến xe cộ.

Mặt khác, mùa cam có thể thoát nạn thời tiết giá băng, nhưng những người tiêu thụ quyết định bắt đầu mua nhiều cam hơn và ít mua táo lại. Nói cách khác, thay vì nguồn cung cấp cam thu nhỏ, thì lại có nhu cầu tiêu thụ cam tăng lên. Điều này cũng sẽ làm cho giá cam tăng một thời gian, ít ra là cho tới khi nào những nhà trồng trọt có đủ thời giờ chở thêm cam ra tới chợ.

Dù là lý do gì làm giá cam tăng lên, anh Robert và chị Maria có lẽ đều đáp ứng như ta dễ dàng dự đoán khi họ thấy giá cam cao hơn là họ dự liệu. Họ có thể sẽ phải quyết định mua ít cam hơn là dự tính, hay là mua táo hay trái cây nào khác thay vào đó. Vì nhiều người tiêu thụ khác có cùng lựa chọn, cam sẽ không biến mất hoàn toàn khỏi các quày hàng. Nhưng chúng sẽ mắc hơn, nên chỉ có người nào muốn mua và có thể trả cao giá hơn mới có thể tiếp tục mua cam. Ít lâu sau, khi có nhiều người bắt đầu mua táo hay các loại trái cây khác thay thế cho cam, giá cả của những lại trái cây đó cũng sẽ tăng lên.

Nhưng phản ứng của những người tiêu thụ chỉ mới là một vế, vế bên nhu cầu, của phương trình quyết định giá cả của cam. Còn vế cung cấp bên kia thì xảy ra thế nào? Giá cam lên cao gởi tín hiệu đến cho tất cả những nhà trồng trọt trái cây biết là – dân chúng đang bỏ thêm tiền mua trái cây – điều đó cũng cho những nhà trồng trọt thấy là giá cam cao sẽ giúp họ có thể dùng nhiều nguồn tài nguyên để trồng trái cây nhiều hơn là trong quá khứ. Giá cả cao này cũng sẽ giúp những nhà trồng trọt tìm thêm những địa điểm mới cho các vườn trái cây để trái cây không còn bị hư hại bởi ảnh hưởng của thời tiết xấu. Họ cũng có thể cung cấp chi phí cho những nhà sinh vật học tìm ra những giống trái cây mới chịu đựng nổi khí hậu lạnh, côn trùng và đủ loại bịnh tật xảy ra cho cây trái. Theo thời gian thì tất cả những hoạt động này sẽ làm tăng sản lượng trái cây và hạ giá cả xuống. Nhưng toàn bộ quá trình phụ thuộc trước tiên và tiên quyết vào quyết định căn bản của những người tiêu thụ là dùng một phần khoản tiền thu nhập của họ vừa mua cam và mua cả những loại trái cây khác.

Nếu những người tiêu thụ ngừng mua hay quyết định giảm chi tiêu cho một sản phẩm nào đó – dù là bất kỳ lý do nào – giá cả sẽ hạ xuống. Nếu họ mua nhiều hơn, nhu cầu nâng cao, giá sẽ tăng.

Cần nhớ là những tương tác giữa cung cấp, nhu cầu và giá cả xảy ra ở mọi mức độ của nền kinh tế, không chỉ với hàng hóa bán cho công chúng. Sự tiêu thụ cũng có thể nói đến những hàng hóa trung gian – như đến những vật dụng mà các công ty phải mua để chế tạo ra sản phẩm hay cung cấp dịch vụ. Giá thành của những hàng hóa trung gian hay hàng hóa cần đầu tư này sẽ tác động vào kinh tế thị trường, phải đổi những phương trình cung và cầu ở mỗi mức độ. Thử xem ví dụ về những điện phiến bán dẫn (semiconductor chip), trung tâm của cuộc cách mạng máy điện toán hiện đại. Cũng như trường hợp của những trái cam, các giá cả cao hơn sẽ có khuynh hướng giảm nhu cầu về những điện phiến của máy điện toán và do đó giảm cả nhu cầu mua máy điện toán. Tuy nhiên, theo thời gian, giá cao hơn này sẽ cho những nhà sản xuất linh kiện máy điện toán thấy là có thể có lợi nhuận nếu họ gia tăng mức sản xuất hay cung cấp cho thị trường. Khi giá thành của những linh kiện giảm xuống, thì giá thành của các máy điện toán tất sẽ giảm theo (giả thiết là giá những bộ phận khác không đổi), và nhu cầu về các máy điện toán sẽ tăng.

Nhu cầu về các máy điện toán này sẽ có ảnh hưởng nhiều hơn là chỉ việc thúc đẩy những nhà sản xuất tăng số lượng sản phẩm của họ. Nó sẽ còn kích thích sự sáng tạo hầu làm cho những linh kiện máy điện toán và máy điện toán chạy được nhanh chóng và hữu hiệu hơn những thế hệ máy ban đầu – sự cạnh tranh về tiến bộ và giá cả xảy ra hầu như trong mọi nền kinh tế thật sự tự do.

Giá Cả và Thu Nhập của Người Tiêu Thụ

Một yếu tố kinh tế khác mà những người tiêu thụ phải chú trọng trong những việc mua hàng hóa và dịch vụ là mức độ thu nhập của họ. Phần lớn họ thu nhập từ việc làm trong các ngành nghề, từ các bác sĩ, thợ mộc, thầy cô giáo, thợ sửa ống nước, công nhân trong dây chuyền sản xuất hay các nhân viên bán ở các cửa hàng bán lẻ. Một số người khác thu nhập từ tiền cho thuê hay bán đất đai hay những nguồn tài nguyên họ làm chủ, hay tiền lời từ những cơ sở kinh doanh hay đầu tư, hay từ tiền lời trong những trương mục tiết kiệm ở ngân hàng hay từ những doanh vụ đầu tư khác.

Chúng ta sẽ trình bày sau về việc giá cả cho những cách trả tiền trên được quy định như thế nào; nhưng điều quan trọng ở đây là: 1) trong một nền kinh tế thị trường, chính cá nhân những người tiêu thụ hay gia đình riêng của họ là chủ nhân của những nguồn tài nguyên căn bản dùng để tạo ra hàng hóa và dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu người tiêu thụ; và 2) những tiền lương hay thu nhập mà từng gia đình nhận được từ những phương tiện sản xuất trên có tăng và có giảm – và chính sự giao động đó ảnh hưởng trực tiếp vào số tiền mà những người tiêu thụ chịu chi tiêu cho những hàng hóa và dịch vụ họ muốn, và do đó ảnh hưởng vào mức sản xuất của những hãng xưởng bán những hàng hóa đó.

Hãy xem trường hợp một người nhân viên vừa nghỉ hưu, chỉ còn lãnh 60 phần trăm tiền lương mà bà ta nhận lúc đang làm. Bà ta sẽ cắt giảm sự mua sắm nhiều hàng hóa và dịch vụ, nhất là những thứ đã liên quan đến việc làm cũ, như tiền xe đi làm hay quần áo đi làm – nhưng lại tăng chi tiêu vào những sản phẩm khác như sách vở hay những thứ giải trí đòi hỏi nhiều thời giờ rỗi rãnh, hay có lẽ kể cả chuyện du lịch thăm những nơi chưa từng đến hay thăm các bạn cũ.

Nếu, như trường hợp của nhiều quốc gia ngày nay, số lượng những người tới tuổi về hưu tăng nhanh, những sự thay đổi trong khuynh hướng chi tiêu sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ giá cả thị trường và mức độ sản phẩm cần làm ra và những thứ mà những người về hưu có chiều hướng dùng nhiều hơn những người khác, thí dụ như những dịch vụ y tế. Để đáp ứng điều đó, nhiều cơ sở kinh doanh sẽ quyết định cung cấp nhiều hàng hóa và dịch vụ hướng đến những yêu cầu và quan tâm của những người về hưu – chừng nào mà họ còn kiếm được lợi nhuận trong sản xuất hàng hóa và dịch vụ cho giới tiêu thụ này.

Tóm lại: dù những người tiêu thụ trẻ hay già, đàn ông hay đàn bà, giàu, nghèo hay tầng lớp trung lưu, mỗi đồng tiền (dù là tiền tệ của quốc gia nào) họ chi tiêu cũng là một tín hiệu – một loại phiếu bầu trong nền kinh tế để báo cho những nhà sản xuất biết là loại hàng hóa hay dịch vụ nào họ muốn được cung cấp.

Mức tiêu thụ của khách hàng thể hiện nhu cầu căn bản của các sản phẩm được bán trên thị trường, đó là phân nửa những điều sẽ quyết định các giá cả hàng hóa và dịch vụ. Còn phân nửa kia dựa trên những quyết định của những cơ sở kinh doanh về thứ nào cần sản xuất ra và bằng cách nào.

Kinh Doanh Trong Nền Kinh Tế Thị Trường

Như chúng ta đã thấy, sự thành công của một công ty trong một nền kinh tế thị trường phụ thuộc vào sự làm thỏa mãn khách hàng bằng cách sản xuất ra những gì họ muốn và bán ra ở những giá cả hợp lý trong sự cạnh tranh với những cơ sở kinh doanh khác. Để làm như thế, các công ty cần đưa ra được những câu trả lời cẩn thận cho một trong những câu hỏi quan trọng nhất mà mọi hệ thống kinh tế đối diện: làm sao một xã hội cung cấp hàng hóa và dịch vụ hữu hiệu nhất? Trong kinh tế thị trường, điều đó có nghĩa là làm sao tạo ra được những giá trị lớn nhất từ những nguồn nguyên liệu những nhà sản xuất sử dụng.

Chế Tạo Một Chiếc Xe Đạp

Hãy xem trường hợp một công ty định sản xuất và bán xe đạp. Trước khi bỏ vốn, bất kỳ nhà kinh doanh hay công ty nào cũng phải xem xét một loạt nhiều yếu tố. Trước tiên, số lượng và bản chất của nhu cầu khách hàng đòi hỏi về một hiệu xe đạp mới là gì? Chỉ có một thị trường lớn chung cho vài kiểu xe đạp thông thường? Hay là thị trường xe đạp được chia làm nhiều thị trường nhỏ hơn, chuyên biệt, như những xe đạp đặc biệt cho trẻ em, những xe đạp đua chuyên chế riêng theo yêu cầu của khách hàng, hay những xe đạp cho hai người? Một khuynh hướng mới, như là một cái “mốt” vừa được phổ biến của một loại xe tạm gọi là xe đạp leo núi để chạy nổi trên những đường mòn hoang dã, có thể thu hút những nhà sản xuất mới nhìn thấy cơ hội thu hái lợi nhuận. Mặt khác, những người chế tạo xe đạp tương lai có thể cảm thấy, một cách đơn giản là họ đã phát huy được những phương pháp sản xuất mới cho một loại xe đạp thông thường, hay đã có được một lực lượng lao động rẻ, để có thể bán rẻ hơn những công ty khác đang cạnh tranh trên thị trường mà vẫn còn có lời.

Không chỉ là làm nhiều loại xe đạp mà còn nhiều cách làm xe đạp nữa – từ việc dùng hệ thống dây chuyền gần như tự động để làm ra hàng ngàn bộ phận khác nhau và ráp thành những chiếc xe đạp cho đến dùng nhiều nhân lực và ít máy móc hơn để thiết kế những kiểu xe đạp riêng theo yêu cầu của khách hàng. Một lần nữa, trong nền kinh tế thị trường, một công ty có những quyết định này phải xem xét chuyện nhiều loại giá cả khác nhau có thể tăng hay giảm để đáp ứng với nhu cầu của người mua và bán những sản phẩm của họ.

Thí dụ như những loại giá cả mà một công ty phải trả cho những mặt hàng họ phải mua vào hiển nhiên sẽ đóng một vai trò quan trọng trong việc quyết định bao nhiêu chất thép, chất nhôm, nhân lực, máy móc, và những vật liệu khác công ty phải dùng để chế tạo xe đạp. Nếu giá của thép tăng và giá của nhôm giảm, nhiều công ty sản xuất xe đạp sẽ tìm ra những phương cách dùng nhiều nhôm hơn và ít thép lại. Tương tự, nếu lương công nhân viên tăng lên giá cao, các công ty sẽ có một động cơ mạnh mẽ để tìm những cách nào dùng nhiều máy móc hay tiền bạc và ít sức lao động. Công ty có thể quyết định mua thêm, thí dụ, xe bốc dỡ kiện hàng để dùng ít công nhân viên hơn trong việc chuyển dời nguyên vật liệu tồn kho trong các kho hàng của công ty.

Hay là họ sẽ dùng nhiều máy hơn cho những đường hàn thường xuyên và lập lại như nhau trên chiếc xe đạp và do vậy sẽ mướn ít công nhân làm các công việc hàn hơn. (Kết quả là số lượng các công nhân trong những nhà máy sản xuất máy hàn dùng trong các cơ xưởng chế tạo xe đạp sẽ gia tăng.)

Đầu tư như thế cũng có phần rủi ro lớn: một kiểu xe đạp mới có thể không hấp dẫn khách hàng, hay những chi phí sản xuất có thể cao một cách không ngờ, giá cả cao làm các xe đạp của công ty này mất thế đứng trên thị trường. Các công ty tự mình phải gánh chịu rủi ro của sự thất bại – và thu đạt những thành công trong kinh doanh, nếu họ lập kế hoạch chính xác và sự đầu tư vào ngành xe đạp được thành công.

Sự cân bằng giữa rủi ro và thành công của các cá nhân hay các công ty tư chỉ ra vai trò cơ yếu của chính quyền trong bất cứ nền kinh tế thị trường nào là: bảo vệ các quyền tư hữu và thực thi luật lệ về các hợp đồng. Các quyền sở hữu phải được định nghĩa rõ ràng trên pháp lý và các chủ nhân hay những người đầu tư vào các cơ sở kinh doanh phải được đối xử như nhau trước pháp luật và những điều lệ thương mại, dù là họ là công dân trong nước hay là những người có quốc tịch những nước khác.

Chỉ khi nào những quyền sở hữu là tự do không bị chính quyền đe dọa trưng dụng hay bị khai thác cho những quyền lợi chính trị thì các cá nhân hay các công ty tư sẽ sẵn sàng chịu thử may rủi mà bỏ tiền ra để đầu tư vào các cơ sở kinh doanh mới hay khuếch trương thêm. Hơn nữa, họ cần phải được bảo đảm là hệ thống pháp lý sẽ giải quyết những sự tranh cãi trên những điều khoản trong hợp đồng một cách công bằng và nhất quán.

Tóm lại, những nhà kinh doanh, trong hay ngoài nước, phải chịu đối phó với những bất trắc về kinh tế trong những các vụ đầu tư của họ – nhưng tốt hơn là họ không phải đối phó với những bất trắc về chính trị hay pháp lý về tư cách pháp nhân của những cơ sở kinh doanh của họ.

Cạnh Tranh và Năng Lực Sản Xuất

Điều chỉnh theo giá cả của các nguồn nguyên liệu cần cho sản xuất là một phần quan trọng của vấn đề sản xuất hữu hiệu và cạnh tranh với những hãng chế tạo những sản phẩm tương tự. Những công ty không thể giữ chi phí sản xuất thấp xuống có thể phải nâng cao giá thành của sản phẩm của họ; nhưng làm việc đó thì không giữ được tính cạnh tranh nếu các công ty khác có thể chế tạo ra những sản phẩm có phẩm chất tương tự với chi phí thấp hơn và bán ra với giá rẻ hơn.

Xem thêm: Thực Phẩm Bẩn Trên Thị Trường Cuối Năm, Thực Phẩm Bẩn

Các khách hàng được lợi từ sự canh tranh này giữa các công ty vì họ có được những sản phẩm tốt hơn với những giá cả rẻ hơn. Và nếu phần lớn những hàng hóa và dịch vụ họ mua từ những thị trường mà đặc thù của nó là có mức cạnh tranh cao độ, thì các ngân khoản chi tiêu của họ sẽ rộng rãi hơn để họ có thể mua thêm nhiều sản phẩm hơn từ cùng nguồn thu nhập của họ.

Tuy nhiên, ngay cả trong những thị trường cạnh tranh, không phải mọi công ty nào cũng cần dùng những nguyên vật liệu hay qui trình sản xuất như nhau. Trong nhiều trường hợp, điều đó gây ra sự thể là có nhiều loại xe đạp khác nhau hay nhiều loại hàng hóa khác nhau được họ quyết định chế tạo ra.Thí dụ, các công ty làm xe đạp đơn giản cho trẻ em lái hay cho những người lớn cần xe đạp làm phương tiện đi làm hàng ngày sẽ thường chỉ muốn làm ra một số lượng lớn xe đạp như nhau và ráp chúng lại với nhau với những nguyên vật liệu tiêu chuẩn bằng phương pháp dây chuyền để giữ chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm thấp. Mặt khác thì những công ty chuyên chế những xe đạp đua theo yêu cầu của khách hàng thì thường muốn dùng nhiều nhân lực với những cụ chuyên môn và nhiều loại kim loại mắc tiền, nhưng lại dùng ít hơn những máy móc hay dây chuyền sản xuất để chế tạo các bộ phận giống y như nhau. Giá thành của những chiếc xe đạp chế riêng cho khách này không có gì ngạc nhiên là thường sẽ cao hơn là các xe đạp chế tạo hàng loạt trong các hãng xưởng lớn.

Nói một cách lý tưởng, dĩ nhiên, mọi người đều thích, là mọi món hàng họ mua đều phải được cạnh tranh mạnh mẽ – cho nên sẽ được giữ ở giá thấp – nhưng lại muốn thấy ít hay không có sự cạnh tranh nào từ những ai khác trong việc làm của họ để kiếm tiền – để lương của họ vẫn cao. Một cách tổng quát, hình như ai cũng ủng hộ chuyện lương cao và giá sản xuất rẻ (kể cả chi phí nhân lực, đó là chi phí lớn nhất của hầu hết các công ty), bởi vì điều đó chỉ ra là mọi người sẽ có thể mua sắm nhiều hàng và dịch vụ hơn. Nhưng không có hệ thống kinh tế nào có thể đưa ra được cùng một lúc chuyện lương cao và giá rẻ, bởi vì lương công nhân viên tiêu biểu cho chi phí lao động của hãng xưởng để sản xuất và bán hàng hóa và dịch vụ của nó. Nói một cách khác, nếu chi phí sản xuất và nhu cầu khách hàng không đổi, thì chuyện tăng lương cho mọi người sẽ tăng chi phí sản xuất và giá cả của sản phẩm.

Theo thời gian, dĩ nhiên các công nhân viên và hãng xưởng sẽ có cách giải quyết tình trạng huống tương phản này – đó là lương và lợi nhuận cao hơn mà không làm tăng giá thành sản phẩm mà khách hàng phải trả để mua và do đó không sợ vị mất việc hay mất khách hàng qua những công ty khác đang cạnh tranh với họ. Câu trả lời là phải gia tăng năng lực sản xuất, tức là gia tăng mức độ sản xuất ra sản phẩm mà một ngành kỹ nghệ hay công ty đạt được từ mỗi công nhân viên hay từ mỗi nguồn nguyên vật liệu dùng cho sản phẩm hay dịch vụ của nó. Để gia tăng năng lực sản xuất, các công nhân viên và công ty phải đưa ra thị trường sản phẩm mới, hay chế tạo ra những sản phẩm hay dịch vụ hữu hiệu hơn là công ty canh tranh với họ, với giá cả rẻ hơn hoặc là với phẩm chất cao hơn. Tóm lại, các sản phẩm của họ phải mới hơn, tốt hơn hay rẻ hơn.

Những mức độ sản xuất cao hơn là lý do giải thích cho mức lương và tiêu chuẩn cuộc sống cao hơn. Năng lực sản xuất cao hơn nghĩa là mỗi công nhân viên làm ra nhiều hàng hơn, thành ra sự phồn thịnh to tát hơn, thể hiện qua đồng lương cao hơn và tiêu chuẩn cuộc sống tốt đẹp hơn. Cắt giảm các chi phí sản xuất và làm việc hữu hiệu hơn là những cách nâng cao năng suất, nhưng trong những nền kinh tế hiện đại dựa trên căn bản kỹ thuật, nghiên cứu và sáng chế cũng cần thiết cho năng suất và sự phát triển của nền kinh tế quốc gia và thế giới trong thời gian dài. Các tiến bộ trong lãnh vực máy điện toán, thông tin-liên lạc và sinh học di truyền là kết quả của những nghiên cứu, thí nghiệm và kiểm chứng khoa học. Những tiến bộ này xảy ra liên tục trong những nền kinh tế thị trường khi mà các công ty cố gắng đưa ra những sản phẩm và dịch vụ mới hay là sản xuất những sản phẩm của họ hữu hiệu hơn. Kết quả là: nhiều việc làm mới, nhiều cơ hội khuếch trương, và sự phồn thịnh hơn cho tất cả mọi người. Đây này cũng là cùng một cách mà tất cả công nhân viên và các cơ sở kinh doanh trong một nước có thể nâng cao vị trí cạnh tranh của họ trong nền kinh tế thế giới, và để nâng tiêu chuẩn cuộc sống vật chất trong nước họ lên theo dòng thời gian.

Mậu dịch quốc tế cũng có thể đóng góp phần quan trọng vào năng suất sản xuất và sự thịnh vượng chung. Thử nghĩ qua chuyện anh Robert và chị Maria mua cam. Anh Robert là thợ máy tiện, khéo léo, kinh nghiệm trong nghề nghiệp. Giả sử thay vì chỉ làm thợ tiện, anh Robert dành chút thì giờ để trồng cam – và người chủ vườn cam, người đã trồng cam và những cây trái khác bao nhiêu năm lại dành thì giờ chế tạo các dụng cụ máy móc. Cả hai đều không thể làm giỏi giang nghề nghiệp thứ hai của mình bằng được nghề nghiệp chánh. Kết quả như dự đoán là: số cam sẽ ít hơn và dụng cụ máy móc sẽ kém phẩm chất hơn cho mọi người. Giống như trường hợp này, kẻ mua và người bán cùng có lợi khi họ buôn bán với nhau những món hàng mà họ làm tốt nhất và hữu hiệu nhất, thì các vùng kinh tế hay các quốc gia cũng sẽ tốt hơn lên nếu họ chuyên môn hóa sản phẩm của mình và tự do giao thương với nhau. Khi các quốc gia giao thương với nhau những hàng hóa và dịch vụ mà họ làm tốt nhất ở giá thấp, lợi nhuận sẽ được chia sẻ đến mọi người dân ở các nước này.

Những ý kiến phổ thông nhất ủng hộ chính sách giới hạn tự do mậu dịch – như thuế nhập cảng hay giới hạn lượng hàng hóa nhập cảng – cho rằng bảo vệ việc làm trong vài ngành kỹ nghệ là điều tốt cho một quốc gia bởi vì các công nhân viên và các chủ nhân trong những ngành kỹ nghệ đó sẽ kiếm được nhiều tiền hơn và sẽ chi tiêu hầu hết số tiền đó trong phạm vi nước họ. Điều này cũng có chi tiết đúng sự thật, nhưng chỉ mới là một phần của câu chuyện. Bảo vệ vài nhà sản xuất và các công nhân viên của họ cũng có thể đồng nghĩa với các giá cả hàng hóa và dịch vụ sẽ cao hơn. Đó là tin xấu cho người tiêu thụ, xấu cho những nhà sản xuất mà nguồn nguyên vật liệu là những sản phẩm đó và xấu cho nhiều công ty bị giảm lượng hàng hóa bán ra vì nhiều khách hàng đã phải trả thêm tiền cho những sản phẩm được bảo vệ nói trên.

CÔNG NHÂN VIÊN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

Dòng người công nhân viên đi làm việc hàng ngày trông rất giống như nhau trong cả hai nền kinh tế thị trường và kinh tế chỉ huy với cùng mức độ công nghiệp hóa. Nhưng một lần nữa, bên trong cung cách hai hệ thống kinh tế đó vận hành vẫn có sự khác biệt tiềm ẩn, quan trọng hơn là vẻ giống nhau rõ ràng bên ngoài.

Những Sự Chọn Lựa

Trở lại ví dụ của gia đình trên đi chợ mua cam – cùng với táo vì giá cam hơi cao hơn họ dự liệu. Sau khi ăn tối và các con đã ngủ, anh Robert, như đã nói, làm thợ máy tiện và chị Maria, cô giáo, bàn bạc với nhau về những cơ hội nghề nghiệp trước mắt họ. Điều này không xảy ta thường xuyên, nhưng ở vài thời điểm then chốt nào đó trong cuộc đời, những công nhân viên trong nền kinh tế thị trường phải có những quyết định quan trọng cho sự nghiệp của họ. Tại sao? Vì không ai quyết định những điều đó cả giùm cho họ cả, vì không có cơ quan kế hoạch trung ương nào quyết định ai sẽ làm ở đâu, và được lãnh bao nhiêu tiền lương.

Anh Robert lo lắng là cơ hội thăng tiến trong nghề thợ máy tiện thì hạn chế, và anh ta muốn học thêm môn thảo chương điện toán, ngành mà có thể cung ứng nhiều cơ hội rộng rãi hơn. Chị Maria cũng có cơ hội để thăng tiến lên một chức vụ quản trị khó khăn hơn trong hệ thống học đường.

Hàng ngàn công nhân viên đối phó với những quyết định kinh tế này mỗi năm. Các câu trả lời của anh Robert và chị Maria được quyết định trên nhiều yếu tố, cá nhân lẫn kinh tế. Thí dụ, một cặp vợ chồng trung lưu có con cái sẽ có những quyết định khác một người độc thân vừa học xong trung học hay đại học, hay cũng khác người sắp đến tuổi nghỉ hưu.

Câu hỏi cho chị Maria là có muốn đổi sự thoải mái trong nghề dạy học để giữ chức vụ quản trị cao lương hơn, nhưng cũng căng thẳng hơn và làm nhiều giờ hơn.

Anh Robert cũng đối diện với câu hỏi cơ yếu là có nên ghi danh học cao đẳng hay một chương trình huấn nghệ nào đó với hy vọng là có thêm những kinh nghiệm mới để đòi lương cao hơn và nhiều cơ hội thăng tiến hơn. Đối với anh Robert, trong quan niệm kinh tế, đây có phải là một sự đầu tư đúng hay không còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố như:

Anh Robert sẽ kiếm thêm được bao nhiêu bây giờ, nếu không có thêm trình độ học vấn hay được huấn nghệ thêm? Lương hiện tại của anh càng cao thì thu nhập của anh phải thiệt thòi càng nhiều, nếu anh bỏ việc thợ máy tiện mà học tiếp xong cao đẳng hay một chương trình huấn nghệ.

Học phí và những phí tổn khác để theo học cao đẳng hay huấn nghệ về máy điện toán cao chừng nào? Những chi phí này càng cao, thì chuyện đầu tư cá nhân này càng ít có lợi, và sẽ có ít người, như anh Robert, ghi danh theo học những chương trình đó.

Chương trình học hay huấn nghệ kéo dài bao lâu để đạt được những thành tựu cho công việc. Anh Robert có thể sẽ thấy là sáu tháng huấn nghệ nhẹ nhàng sẽ được đền bù nhiều hơn là một chương trình cao học nặng nề ở trường đại học.

Tuổi tác của anh Robert cũng là một yếu tố cần nói. Các công nhân viên trẻ hơn hiển nhiên sẽ có nhiều năm làm để kiếm lại số tiền mà họ đã thất thu khi bỏ việc làm, và cả những món tiền học phí.

Anh Robert sẽ kiếm được bao nhiêu sau khi huấn nghệ về máy điện toán? Sự cách biệt giữa số lương đó và lương hiện tại càng lớn, thì chắc là anh ta sẽ trù liệu chín chắn để ghi danh vào một chương trình huấn nghệ như thế.

Khả năng mà anh Robert có thể tìm được việc làm trong ngành nghề này sau khi tốt nghiệp sẽ thế nào?

Những yếu tố này thay đổi rất khác biệt cho từng người, đó là lý do mà không phải ai cũng đi học ở trường cao đẳng hay theo học các khóa huấn nghệ cả, ít ra là trong ý nghĩa của sự đầu tư tài chính hợp lý cho sự nghiệp của họ. Đối với nhiều người thì chi phí quá cao so với quyền lợi mong đợi. Đối với nhiều người khác – kể cả những học sinh trẻ sáng dạ nhưng không được việc làm lương cao bây giờ – cao đẳng hay những chương trình huấn nghệ hầu như luôn luôn là chuyện đầu tư “kinh doanh” tốt.

Như trong trường hợp của anh Robert và chị Maria, những quyết định này dựa trên nhiều yếu tố hơn là chỉ chuyện tài chánh. Nhưng giống như những công ty xem xét chuyện đầu tư vào những cơ xưởng và dụng cụ mới, các công nhân viên trong nền kinh tế thị trường phải gách vác những chi phí và rủi ro rõ ràng để nhận được thêm kiến thức học vấn hay huấn nghệ. Và thật sự thì nhiều chuyện đầu tư như thế không thu nhập được gì, bởi vì không phải tất cả ai đi tới trường cũng học được, hay sau khi tốt nghiệp sẽ thành công ngoài thị trường nghề nghiệp. Đối với nhiều người, việc làm dù lương thấp nhưng ổn định vẫn rất hấp dẫn hơn, vì có thì giờ quý báu và cơ hội lo cho gia đình, hay cho người khác và theo đuổi những chuyên môn khác. Đối với phần lớn các công nhân viên trong nền kinh tế thị trường, chấp nhận may rủi cho chuyện học vấn và huấn nghệ cũng là điều đáng làm trong vài thập niên qua và đang gia tăng những năm gần đây khi nền kinh tế trở thành kỹ thuật hóa và phức tạp hơn lên.

Những Công Nhân Viên và Chủ Nhân

Thí dụ về anh Robert và chị Maria và hàng triệu người như họ cho thấy một điều khác nữa trong các nền kinh tế thị trường. Vì không có sự hiện diện của một ủy ban kế hoạch trung ương, các công nhân viên và chủ nhân của họ xác định mối quan hệ của họ với nhau qua những quyết định độc lập. Điều này không có nghĩa là họ luôn luôn thương lượng bình đẳng nhau, hay là các công nhân viên luôn luôn vui vẻ với việc làm và hài lòng với mức lương của mình. Nhưng có một sự kiện hiển nhiên là các công nhân viên và chủ nhân có nhiều sự tự do để quyết định sự bắt đầu, thay đổi hay chấm dứt mối quan hệ của họ. Điều đó đặt ra một câu hỏi căn bản: điều gì ràng buộc người nhân viên và hãng xưởng với nhau trong một nền kinh tế thị trường hay dẫn đến chuyện thay đổi sự quan hệ đó?

Như trường hợp của anh Robert và chị Maria cho thấy rằng, công việc của một công nhân viên trong một nền kinh tế thị trường phụ thuộc đầu tiên và trước nhất vào sở thích cá nhân, huấn nghệ và kỹ năng sở trường. Dân chúng tự do theo đuổi lựa chọn bất kỳ ngành nghề nào, nhưng chỉ có những người có thể hội đủ tiêu chuẩn cơ bản để làm công việc họ lựa chọn mới có thể được vào bảng lương của người chủ. Trong những thị trường cạnh tranh, các công ty không thể trả lương cho các công nhân viên không thể hay sẽ không thể làm công việc họ được mướn để làm. Nhưng cũng cùng chung tiêu chuẩn đó, những công nhân viên nào đóng góp phần quan trọng vào việc sản xuất sản phẩm hay dịch vụ cho một công ty là những công nhân viên sáng giá mà những công ty khác cũng thích mướn họ về làm.

Để giữ những công nhân viên này, các công ty phải chịu cung ứng lương bổng và hợp đồng xứng đáng hợp lý so với những công ty khác. Sự cạnh tranh đó giữa các công nhân viên tìm việc làm tốt và những hãng xưởng tìm các công nhân viên giỏi là một hoạt động không ngừng trong hầu hết mọi thị trường nhân lực.

Mức lương mà các công ty sẽ trả cho các công nhân viên chủ yếu dựa trên năng lực sản xuất của họ và theo sự khan hiếm hay dư thừa của các khả năng chuyên môn của các công nhân viên. Nói chung thì, những công nhân viên nào làm được nhiều thứ khách hàng ưa thích và chỉ có một số lượng nhỏ những người có khả năng này, sẽ đòi được mức lương cao nhất.

Tuy nhiên cũng có vài yếu tố khác ảnh hưởng đến sự khan hiếm đó. Thí dụ như những điều kiện làm việc không thoải mái hay nguy hiểm sẽ đưa đến mức lương bổng khác hơn cho các công nhân viên làm việc đó vì nhiều người không chịu làm. Công nhân mỏ thường lànm nhiều tiền hơn là thơ ký văn phòng; thợ làm sắt thép cho những cao ốc chọc trời sẽ lãnh lương cao hơn công nhân đào đất làm nền cho những cao ốc đó.

Học Vấn và Huấn Nghệ

Công việc đòi hỏi nhiều huấn luyện và học vấn thường đưa đến sự đòi hỏi lương cao hơn, nếu ta giữ những thứ khác ngang nhau, bởi vì, như anh Robert biết, nhiều công nhân viên bỏ việc ngang sau bao nhiêu năm làm để học thêm những kỹ năng cho những công việc lương cao hơn – và vì học vấn tự nó cũng đòi hỏi sự thông minh và cần cù mới xong được. Bổ đồng ra thì kỹ sư và kiến trúc sư được trả lương cao nhất trong hầu hết những nền kinh tế thị trường – phần nhiều cũng là do những nguyên nhân này.

Huấn nghệ, giáo dục và siêng năng có thể ảnh hưởng đến mức thu nhập, nhưng một điều rất quan trọng nữa là nhu cầu của xã hội về một kỹ năng hay công việc đặc biệt nào đó. Những người thợ sửa ống nước hay thợ điện với kỹ năng cao có thể đòi tiền lệ phí cao hơn những người thợ mộc hay thợ sửa xe; nhưng một người thợ mộc cao tay nghề làm kệ tủ hay một thợ máy xe hơi lâu năm cũng có thể đòi lương cao xứng với kỹ năng của người đó.

Vế cung cấp của phương trình cũng tác động kiểu tương tự trong thị trường nhân lực. Thí dụ như trong phần lớn các trường đại học trong nền kinh tế thị trường, giáo sư ngành triết học và ngôn ngữ học có lương thấp hơn là giáo sư ngành kỹ thuật hay khoa học trong nhiều thập niên qua, đơn giản là vì có quá nhiều giáo sư ngành đó so với nhu cầu đòi hỏi. Rất nhiều người có thể đủ khả năng làm nhân viên bán hàng trong các cửa hàng, đó là lý do mà lương của những việc làm này có khuynh hướng thấp hơn so với những công việc mà người đủ khả năng làm ít hơn.

Giá Cả và Lương bổng

Vấn đề học vấn và huấn nghệ cũng cho thấy là những quyết định của công nhân viên trong các thị trường nhân lực, một lần nữa, bị ảnh hưởng mạnh mẻ bởi nhiều loại giá cả khác nhau và đặc biệt là mức lương bổng. Ngược lại, các giá trị của lao động bị ảnh hưởng bởi nhu cầu hàng hóa và dịch vụ mà các công nhân viên được mướn để làm. Kết quả là tiền lương bổng trong những nghề nghiệp khác nhau tăng hay giảm theo thời gian phần nhiều là do sự thay đổi trong giá cả của hàng hóa và dịch vụ cho khách hàng. Thí dụ như, khi những chiếc xe hơi đã thay thế các con ngựa trong những năm đầu của thế kỷ 20, thì lương của những người thợ rèn và thợ làm yên ngựa giảm khủng khiếp, trong khi lương của các thợ cơ khí xe hơi tăng lên.

Tương tự, trong vài năm qua, nhu cầu đòi hỏi nhiều công nhân viên với bằng cấp cao đẳng tăng lên nhanh chóng trong mọi nền kinh tế thị trường, phần nhiều là do hầu hết các cơ sở kinh doanh ngày nay làm việc với nhiều kỹ thuật phức tạp hơn xưa. Robert thích làm việc máy điện toán, một phần cũng vì anh ta thấy đó là ngành đang đi lên có nhu cầu cần người làm tương đối nhiều, tất sẽ dẫn đến lương cao.

Mậu dịch thế giới cũng có thể là yếu tố quan trọng để quyết định nhu cầu chung. Kỹ nghệ và các công ty có thể cạnh tranh nhau thành công và xuất cảng qua các thị trường ngoại quốc sẽ mở ra nhiều việc làm và cơ hội nghề nghiệp cho các công nhân viên – cũng như nhập cảng từ những quốc gia cung cấp chúng, như là những người tiêu thụ, nhiều loại hàng hóa hơn ở những giá cả hợp lý.

Những công nhân viên nào chuẩn bị những nghề nghiệp đáp ứng được sự lớn mạnh của nhu cầu việc làm sẽ hưởng lợi nhờ vào tầm nhìn trước của họ. Những người nào cố bám víu vào những công việc trong thị trường đang xuống dốc, không còn cần những kỹ năng cũ sẽ thường bất mãn và có khi bị sa thải. Họ cần huấn nghệ thêm qua những nguồn trợ giúp của riêng họ, của chính quyền hay của các hãng xưởng họ làm. Nhưng điều đó cũng là một bộ phận của hệ thống vững mạnh của những động cơ khích lệ để hướng dẫn đưa thêm các nguồn trợ giúp – cụ thể là trợ giúp nguồn nhân lực – vào quá trình sản xuất hàng hóa và dịch vụ mà những người tiêu thụ cần nhất, và rút bớt nguồn trợ giúp cho những quá trình sản xuất khác không còn có nhu cầu đòi hỏi.

Qua thời gian, sự khẳng định cố hữu về việc sản xuất ra món hàng nào mà khách hàng muốn là lý do căn bản nhất giải thích tại sao nguồn nhân lực và các nguồn nguyên vật liệu khác thì quá là phát triển trong những nền kinh tế thị trường. Bài học thì rõ ràng: để được phồn thịnh, sản xuất thứ mà người dân muốn và cần.(phần in nghiêng của HVCD để nhấn mạnh).

CÁC VẤN ĐỀ TÀI CHÍNH TRONG MỘT NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

Trong các thị trường hàng hóa, dịch vụ và lao động, giá cả thì được biểu hiện qua đơn vị tiền tệ hay đồng tiền. Nhưng bản thân đồng tiền cũng được đổi chác trong các nền kinh tế thị trường, bởi vì nhiều người thì muốn để dành tiền để tiêu dùng trong tương lai, trong khi những người khác – kể cả những cở sở kinh doanh – thì muốn mượn tiền để tiêu dùng ngay. Giá phải trả để dùng tiền như thế – gọi là mức lãi xuất – thì được quyết định bởi những thị trường mà các nguồn tiền bạc được trao đổi.

Trong tầm nhìn rộng rãi hơn, các ngân hàng và các công ty trong ngành tài chính của một nền kinh tế thị trường là gạch nối quan trọng nhất giữa những người có nguồn tài chính để dự trữ và đầu tư với những người có những yếu tố thích đáng nhất để sử dụng những nguồn tài chính đó và chịu trả tiền cho việc sử dụng đó. Qua các nền kinh tế này, những quyết định về việc đầu tư các nguồn tái chính đó thế nào và ở đâu, , cũng như các quyết định về sự sản xuất và tiêu thụ thì được tản ra trong những thị trường hàng hóa và dịch vụ.

Để Mua Căn Nhà

Hãy nhìn lại gia đình anh Robert và chị Maria vài năm sau khi họ nói về đổi việc làm và học thêm. Thật vậy, chị Maria đã nhận làm công việc quản trị cho nhà trường và anh Robert theo học huấn nghệ chuyên sâu hơn về thảo chương máy điện toán và đã tìm được việc trong một ngành mới dang phát triển. Từ đó, anh Robert và chị Maria nhờ có lương bổng cao hơn trước đã có thể tiết kiệm tiền hầu để mua món hàng lớn nhất mà bình thường mỗi một người chưa từng mua: căn nhà.

Ở đây, vai trò của các cơ quan tổ chức chuyên về tài chánh thì thiết yếu. Các ngân hàng thực hiện hai chức năng. Một bên, họ giữ tiền cho những người như chị Maria và anh Robert – những người muốn để dành tiền bạc an toàn và có thu lợi nhuận. Mặt khác, họ đưa tiền cho những người cần vay tiền khi những người này có thể chứng minh là họ có khả năng tài chánh để trả lại số tiền vay mượn đó sau này. Những người mượn và người cho mượn không phải chỉ là những cá nhân mà còn là những công ty muốn để dành tiền hay muốn mượn tiền để đầu tư vào những cơ sở kinh doanh mới hay bành trướng thêm ra.

Trong một nền kinh tế thị trường, những cá nhân như chị Maria va anh Robert tùy lúc có thể đóng vai trò của người để dành và người mượn. Để thu hút tiền của những người để dành như chị Maria và anh Robert, các ngân hàng đưa ra mức lãi xuất cạnh tranh được với những ngân hàng hay các cơ quan ngân quỹ tiết kiệm khác. Còn bây giờ, chị Maria và anh Robert lại tìm đến ngân hàng chủ ý là vay nợ, muốn mượn số tiền để có thể mua nhà. Nếu ngân hàng thấy họ có thể trả lại tiền vay hằng tháng trong một khoảng thời gian vài năm, ngân hàng sẽ cho họ mượn tiền. Tuy nhiên, ngân hàng sẽ lấy mức lãi xuất cao khi cho người ta vay hơn là mức lãi xuất trả cho tiền để dành của họ: sự sai biệt là tiền lời mà ngân hàng thu được để cung cấp các dịch vụ tài chánh.

Vay Mượn và Đầu Tư

Quá trình tương tự cũng xảy ra trong các cơ sở kinh doanh tìm kiếm các nguồn ngân quỹ đầu tư cho hãng xưởng, cửa hàng hay dụng cụ mới. Và cũng như mọi ngành kỹ nghệ khác trong một nền kinh tế thị trường, sự cạnh tranh giữa các ngân hàng cũng giúp cho mức lãi xuất thấp vừa phải trong khi các ngân hàng vẫn có mức lời đủ để vận hành tốt đẹp và hữu hiệu. Hơn nữa, vì ngân khoản tiền có thể cho mượn cũng giới hạn cho nên những người mượn – tư nhân hay công ty – sẽ cạnh tranh nhau để được ngân hàng chấp thuận. Sự cạnh tranh này bảo đảm là những món nợ ngân hàng sẽ đưa đến những vốn đầu tư nào với khả năng hoàn trả lại cao nhất một cách hữu hiệu hơn là nếu tự chính quyền ra những quyết định về chuyện vay mượn đó.

Các cơ sở kinh doanh cần những tiền vay vốn này cho những cơ xưởng hay máy móc mới để tăng sản lượng sản xuất và bán ra. Những công ty này nghĩ là họ sẽ thu lợi nhuận ở những sự đầu tư mới này trong nhiều năm, cho nên họ sẵn sàng trả tiền lời cho những ngân quỹ họ dùng để mua những trang bị mới và bắt đầu sản xuất ngay bây giờ chớ không phải cho sau này.

Đương nhiên, nếu tiền lời họ phải trả cao hơn tiền lời họ nghĩ là sẽ thu vào, các cơ sở kinh doanh sẽ không vay mượn. Và thật vậy, nếu một công ty không có dự định đầu tư nào để thu lời cao hơn mức lãi xuất trên tiền vay mượn, thì họ sẽ để dành tiền đó, tốt hơn là mượn thêm ngân quỹ. Và có lẽ là công ty này sẽ thử chuyển nguồn tài nguyên của mình qua hướng làm ăn mới nơi mà họ đã nhận diện ra là tiền lời thu vào sẽ cao hơn tiền lời vay mượn. Điều đó đơn giản chỉ là một cách khác để điều chỉnh các nguồn tài nguyên vào những công ty có hy vọng thu lời cao nhất từ các nguồn tài nguyên đó – như chúng ta đã thấy ở trên, dựa vào chuyện cung cấp những thứ mà khách hàng muốn nhiều nhất ở giá cả bằng hay rẻ hơn giá cả của các sản phẩm tương tự cung ứng từ các công ty khác đang cạnh tranh với mình.

Ở đây, mậu dịch thế giới cũng có thể quan trọng. Cũng như khi các quốc gia trao đổi hàng hóa, các nước này cũng có thể trao đổi các dịch vụ tài chánh và các ngân quỹ đầu tư. Quỹ đầu tư ngoại quốc có thể tăng số tiền, hay vốn dành cho các cơ sở kinh doanh vay mượn và đầu tư. Các quỹ đầu tư ngoại quốc cạnh tranh với các ngân hàng hay các cơ quan tổ chức tài chánh nội địa cũng có thể giúp làm mức lãi xuất – hay giá trị của tiền tệ – thấp.

Xem thêm: Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường Đô Thị Xanh, Bảo Vệ Môi Trường Đô Thị

Sự đầu tư của ngoại quốc nếu được xem là ảnh hưởng quá mức sẽ tạo ra những mối lo ngại là vài bộ phận của nền kinh tế không còn trong tầm điều khiển của một quốc gia. Điều lo ngại đó hầu như luôn luôn không vững chắc, phần nhiều là vì sự năng động của một nền kinh tế thị trường áp dụng đồng đều cho những đầu tư và hoạt động kinh doanh quốc tế cũng như quốc gia. Sự đầu tư của ngoại quốc, cũng như các loại đầu tư khác, là một lá phiếu tín nhiệm về sự phát triển kinh tế. Sự đầu tư của ngoại quốc đem vào một nguồn ngân quỹ mới thường thường làm tăng mức hiệu quả, có thêm kinh nghiệm quản lý và giúp giữ mức lãi xuất giảm.

Các Thị Trường Chứng Khoán và Đầu Tư

Như chúng ta đã thấy trong thí dụ về anh Robert và chị Maria, những ngân hàng thành công có tiền thu nhập nhờ đứng trung gian giữa những người để dành và những người vay mượn và đóng một vai trò quan trọng trong hệ thống kinh tế bằng cách đem những người này lại với nhau để các ngân quỹ để dành được có thể đầu tư

Trả lời

Back to top button