môn học thị trường chứng khoán

Đang xem: Môn học thị trường chứng khoán

17 Comments 64 Likes Statistics Notes

Xem thêm: giáo trình những vấn đề cơ bản về chứng khoán và thị trường chứng khoán

12 hours ago   Delete Reply Block

Xem thêm: Công Chúa Nhỏ Bé Nhỏ Tiếng Anh Là Gì, Nghĩa Của Từ : Little

Đoàn Quốc vượng , học sinh at hjnch at hjnch

Giáo trình môn thị trường chứng khoán

1. CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN I. GIỚI THIỆU VỀ THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH 1. Bản chất và chức năng của thị trường tài chính 1.1. Bản chất của thị trường tài chính Trong nền kinh tế, nhu cầu về vốn để đầu tư và các nguồn tiết kiệm có thể phát sinh từ những chủ thểkhác nhau. Nhiều người có cơ hội đầu tư sinh lời thì thiếu vốn, trái lại nhiều người có vốn nhàn rỗi lạikhông có cơ hội đầu tư. Do đó hình thành nên một cơ chế chuyển đổi từ tiết kiệm sang đầu tư. Cơ chế đóđược thực hiện trong khuôn khổ thị trường tài chính. Những người thiếu vốn huy động vốn bằng cách pháthành ra các công cụ tài chính như cổ phiếu, trái phiếu. Những người có vốn dư thừa, thay vì đầu tư vào máymóc thiết bị. nhà xưởng để sản xuất hàng hoá hay cung cấp dịch vụ, sẽ đầu tư (mua) vào các tài sản tài chínhđược phát hành bởi những người cần huy động vốn. Vậy, thị trường tài chính là nơi diễn ra sự luân chuyển vốn từ những người có vốn nhàn rỗi tới nhữngngười thiếu vốn. Thị trường tài chính cũng có thể định nghĩa là nơi mua bán, trao đổi các công cụ tài chính. Hoạt động trên thị trường tài chính có những hiệu ứng trực tiếp tới sự giàu có của các cá nhân, tới hànhvi của các doanh nghiệp và người tiêu dùng, và tới động thái chung của toàn bộ nền kinh tế. 1.2. Chức năng của thị trường tài chính a. Dẫn vốn từ những nơi thừa vốn sang những nơi thiếu vốn Đây là chức năng kinh tế chủ yếu của thị trường tài chính. Thông qua hoạt động của các chủ thể trên thịtrường, các nguồn tài chính được luân chuyển để cung và cầu về vốn gặp nhau. Quá trình luân chuyển vốntrên thị trường tài chính làm tăng quá trình chuyển các nguồn tiết kiệm thành đầu tư. Quá trình luân chuyểnvốn được thể hiện qua sơ đồ sau đây: (Sơ đồ) Bên trái của sơ đồ là những người tiết kiệm và cho vay vốn: Bên phải là những người phải đi vay vốn đểtài trợ cho chi tiêu. Người tiết kiệm – cho vay chủ yếu là các hộ gia đình, tuy nhiên, các doanh nghiệp vàchính phủ, và người nước ngoài đôi khi cũng có tiền dư thừa và đem cho vay số tiền đó. Người đi vay – chitiêu quan trọng nhất là các doanh nghiệp và chính phủ, song hộ gia đình và người nước ngoài đôi khi cũngđi vay để mua sắm ôto, đồ dùng và nhà ở. Các mũi tên cho thấy các dòng vốn chạy từ người tiết kiệm – chovay sang người đi vay – chi tiêu qua hai kênh. Ở kênh tài chính gián tiếp, các chủ thể thừa vốn không trực tiếp cung ứng vốn cho người thiếu vốn màgián tiếp thông qua các trung gian tài chính như các ngân hàng, các tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm và chovay, các công ty bảo hiểm hay các tồ chức tài chính tín dụng khác. 1 2. Ở kênh tài chính trực tiếp, các chủ thể dư thừa vốn trực tiếp chuyển vốn cho các chủ thể thiếu vốn(người tiêu dùng, người đầu tư) bằng cách mùa các tài sản tài chính trực tiếp do các chủ thể thiếu vốn pháthành thông qua các thị trường tài chính. Như vậy, chính thị trường tài chính đã giúp cho nguồn vốn vận động từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn,giúp cho quá trình giao lưu vốn được nhanh chóng và hiệu quả. Nhờ đó tận dụng được các nguồn vốn lẻ tẻ,tạm thời nhàn rỗi đưa vào sản xuất, kinh doanh, đầu tư xây dựng nhằm đem lại lợi ích cho các đối tác thamgia thị trường, đồng thời phục vụ nhu cầu phát triển của toàn bộ nền kinh tế. b. Hình thành giá của các tài sản tài chính Thông qua sự tác động qua lại giữa người mua và người bán, giá của các tài sản tài chính được xác định,hay nói cách khác, lợi tức cần phải có trên một tài sản tài chính được xác định. Yếu tố thúc đẩy các doanhnghiệp gọi vốn chính là mức lợi tức mà các nhà đầu tư yêu cầu; và chính đặc điểm này của thị trường tàichính đã phát tín hiệu cho biết vốn trong nền kinh tế cần được phân bổ như thế nào giữa các tài sản tàichính. Quá trình đó được gọi là quá trình hình thành giá. c. Tạo tính thanh khoản cho tài sản tài chính Thị trường tài chính tạo ra một cơ chế để các nhà đầu tư có thể bán tài sản tài chính của mình. Chínhnhờ vào đặc điểm này mà người ta nói rằng thị trường tài chính tạo ra tính thanh khoản cho nền kinh tế. Nếuthiếu tính thanh khoản, người đầu tư sẽ buộc phải nắm giữ các công cụ nợ cho tới khi đáo hạn, hoặc nắm giữcác công cụ vốn cho tới khi công ty phá sản phải thanh lý tài sản. Mặc dù tất cả các thị trường tài chính đềucó tính thanh khoản, song mức độ thanh khoản giữa các thị trường lại khác nhau. d. Giam thiểu chi phí tiếp kiêm và chi phí thông tin Để cho các giao dịch có thể diễn ra, những người mua và những người bán cần phải tìm được nhau;muốn thế, họ cần phải tiêu tốn tiền và thời gian cho việc quảng cáo ý đồ của mình và tìm kiếm đối tác. Đó lànhững chi phí tìm kiếm. Bên cạnh đó là các chi phí thông tin gắn liền với việc nhận định các giá trị dầu tưcủa một công cụ tài chính, tức là khối lượng và tính chắc chắn của dòng tiền dự kiến thu được từ đầu tư.Nhờ tính tập trung, khối lượng giao dịch và giá trị giao dịch lớn, thông tin được cung cấp đầy đủ và nhanhchóng, thị trường tài chính cho phép giảm thiểu những chi phí này. e.Ổn định và điều hoà lưu thông tiền tệ Bên cạnh các chức năng kể trên, thị trường tài chính còn có chức năng ổn định và điều hoà lưu thôngtiền tệ, đảm bảo sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế. Thông qua việc mua bán các trái phiếu, tín phiếu chính phủ của ngân hàng trung ương trên thị trường tàichính, chính phủ có thể tạo ra nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách và kiểm soát lạm phát. Ngân hàng trung ương cũng có thể mua bán ngoại tệ trên thị trường ngoại hối để điều chỉnh lượng cungvà cầu ngoại tệ nhằm giúp chính phủ ổn định tỷ giá hối đoái. 2. Cấu trúc của thị trường tài chính 2 3. Tuỳ theo các tiêu thức khác nhau, người ta có thể phân loại thị trường tài chính theo nhiều cách khácnhau: 2.1. Thị trường tiền tệ và thị trường vốn Căn cứ vào thời hạn luân chuyển vốn, thị trường tài chính được chia thành thị trường tiền tệ và thịtrường vốn. Thị trường tiền tệ Thị trường tiền tệ là thị trường mua bán, trao đổi các công cụ tài chính ngăn hạn (thường có thời hạndưới 1 năm). Thông qua thị trường tiền tệ, các nguồn vốn nhàn rỗi được chuyển từ những nơi thừa vốn sang nhữngnơi thiếu vốn và có nhu cầu đầu tư, góp phần tăng hiệu quả phân bổ nguồn lực của xã hội. Thị trường tiền tếcòn là nơi để ngân hàng trung ương thực thi nghiệp vụ thị trường mở nhằm kiểm soát lượng tiền dự trữ củacác ngân hàng thương mại và điều tiết lượng tiền cung ứng. Thị trường tiền tệ có một số đặc trưng cơ bản sau: – Các công cụ của thị trường tiền tệ có thời gian đáo hạn trong vòng một năm nên có tính thanh khoảncao, độ rủi ro thấp và hoạt động tương dối ổn định. – Hoạt động của thị trường tiền tệ diễn ra chủ yếu trên thị trường tín dụng do đó giá cả hình thành trên thịtrường này được biểu hiện thông qua lãi suất tín dụng ngân hàng. Thị trường tiền tệ bao gồm thị trường liên ngân hàng, thị trường chứng khoán ngắn hạn, thị trường ngoạihối, thị trường tín dụng… Thị trường tín dụng bao gồm các hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại, đó là hoạt động huyđộng vốn và cho vay vốn ngắn hạn. Thị trường liên ngân hàng hoạt động nhằm giải quyết nhu cầu vôn tín dụng giữa các ngân hàng với nhautrước khi ngân hàng thương mại đi vay chiết khấu tại ngân hàng trung ương. Thị trường chứng khoán ngắn hạn là nơi thực hiện các giao dịch mua bán, chuyển nhượng và trao đổicác giấy tờ có giá ngắn hạn như tín phiếu kho bạc, kỳ phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi tiết kiệm và cácgiấy tờ có giá ngắn hạn khác. Thị trường ngoại hối là nơi diễn ra các giao dịch, mua bán, chuyển nhượng, vay và cho vay bằng ngoạitệ. Thị trường ngoại hối là một bộ phận quan trọng của thị trường tiền tệ, sự tác động qua lại giữa cung vàcầu trên thị trường này sẽ hình thành và ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoạt, một trong các biến số quan trọng củanền kinh tế. Thị trường vốn Thị trường vốn là thị trường mua bán, trao đổi các công cụ tài chính chung và dài hạn (thường có thờihạn trên 1 năm). So với các công cụ trên thị trường tiền tệ, các công cụ trên thị trường vốn có tính thanhkhoản kém hơn và độ rủi ro cao hơn, do đó chúng có mức lợi tức cao hơn. 3 4. Vai trò chủ yếu của thị trường vốn là cung cấp tài chính cho các khoản đầu tư dài hạn của chính phủ,doanh nghiệp và hộ gia đình. Thị trường vốn bao gồm thị trường chứng khoán, thị trường vay nợ dài hạn, thịtrương tín dụng thuê mua, thị trường cầm cố, thị trường bất động sản… 2.2. Thị trường nợ và thị trường vốn cổ phần Căn cứ vào cách thức huy động vốn, thị trường tài chính được chia ra thành thị trường nợ và thị trườngvốn cổ phần. Thị trường nợ Thị trường nợ là thị trường mua bán các công cụ nợ như trái phiếu, các khoản cho vay,… Thị trường nợ có đặc trưng là các công cụ giao dịch đều có kỳ hạn nhất định, có thể là ngắn hạn, trung hạnhoặc dài hạn tuỳ theo cam kết nợ giữa chủ nợ và người mắc nợ. Sự hoạt động trên thị trường nợ phụ thuộc rấtlớn vào biến động của lãi suất ngân hàng. Thị trường vôn cổ phần Thị trường vốn cổ phần là thị trường mua bán các cổ phần của công ty cổ phần. Đặc trưng của thị trườngnày là các công cụ trên thị trường này không có kỳ hạn mà chi có thời điểm phát hành, không có ngày mãnhạn. Người mua cổ phiếu chỉ có thể lấy lại tiền bằng cách bán lạn cổ phiếu trên thị trường hoặc khi công tytuyên bố phá sản. Khác với thị trường nợ, hoạt động của thị trường vốn cổ phần chủ yếu phụ thuộc vào hiệuquả kinh doanh của công ty cổ phần. 2.3. Thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp Căn cứ vào tỉnh chất của việc phát hành các công cụ tài chính, thị trường tài chính được chia thành thịtrường sơ cấp và thị trường thứ cấp. Thị trường sơ cấp Thị trường sơ cấp là thị trường trong đó các công cụ tài chính được phát hành lần đầu và được bán chongười đầu tiên mua chúng. Do là phát hành lần đầu nên thị trường này còn được gọi là thị trường cấp một. Thị trường này ít quen thuộc với công chúng đầu tư vì việc bán chứng khoán tới những người mua đầutiên được tiến hành theo những thoả thuận riêng với sự trợ giúp chủ yếu của các định chế tài chính làmnhiệm vụ bảo lãnh phát hành. Thị trường thứ cấp Thị trường thứ cấp là thị trường giao địch các công cụ tài chính sau khi chúng đã được phát hành trên thịtrường sơ cấp. Thị trường thứ cấp còn được gọi là thị trường cấp hai. Hoạt động trên thị trường thứ cấp diễn ra trong phạm vi rộng hơn với tổng mức lưu chuyển vốn lớn hơnrất nhiều so với thị trường sơ cấp. Tuy nhiên việc mua bán chứng khoán trên thị trường này không làm thayđổi nguồn vốn của tổ chức phát hành mà chỉ chuyển vốn từ chủ thể này sang chủ thể khác. 4 5. Thị trường thứ cấp hoạt động làm cho các công cụ tài chính có tính lỏng cao hơn và do đó tạo điều kiệnthuận lợi cho việc phát hành trên thị trường sơ cấp. Vì vậy, có thể nói thị trường thứ cấp là động lực thúcđẩy sự phát triển của thị trường sơ cấp. 3. Các công cụ của thị trường tài chính 3.1. Các công cụ của thị trường tiền tệ Do có thời gian đáo hạn ngắn nên các công cụ tài chính giao dịch trên thị trường tiền tệ có đặc điểmchung là dao động giá thấp và độ rủi ro thấp. Các công cụ chủ yếu của thị trường tiền tệ bao gồm: Tín phiếu kho bạc Là một công cụ vay nợ ngắn hạn của chính phủ do kho bạc nhà nước phát hành, thường được phát hànhtheo định kỳ 3 tháng, 6 tháng, hoặc 9 tháng. Mặc dù lãi suất tín phiếu kho bạc thường thấp hơn các công cụnợ khác nhưng nó rất được ưa chuộng trên thị trường tiền tệ do tính an toàn và tính thanh khoản cao, dễdàng chuyển nhượng trên thị trường thứ cấp. Tín phiếu kho bạc là công cụ nắm giữ chủ yếu của các ngân hàng thương mại. Các ngân hàng này đầu tưnguồn vốn đóng băng vào tín phiếu kho bạc để thu lợi tức và quan trọng hơn, dùng nó như tiền dự trữ cấphai, tức chuyển thành tiền mặt bất cứ lúc nào để giải quyết khó khăn tài chính của ngân hàng. Ngân hàng trung ương cũng có thể sử dụng công cụ này để thực hiện nghiệp vụ thị trường mở nhămđiều chỉnh lượng tiền cung ứng ra lưu thông và kiểm soát thị trường tín dụng. Thương phiếu Thương phiếu hay còn gọi là kỳ phiếu thương mại là một loại giấy nhận nợ đặc biệt người giữ nó cóquyền đòi tiền khi đến hạn. Thương phiếu bao gồm: – Hối phiếu: là phiếu ghi nợ do người bán hàng trả chậm ký phát trao cho người mua hàng trả chậmtrong đó yêu cầu người mua phải trả một số tiền nhất định khi đến hạn cho người bán hoặc bất cứ người nàoxuất trình hối phiếu này (người thụ hưởng). – Lệnh phiếu: là giấy nhận nợ do người mua hàng trả chậm ký phát trao cho người bán hàng trả chậmtrong đó người mua cam kết trả một số tiền nhất định khi đến hạn cho người thụ hưởng. – Chứng chỉ lưu kho: là giấy do một công ty kinh doanh kho bãi ký phát, thừa nhận có giữ hàng hoá chongười chủ hàng ký gửi và cam kết giao hàng cho chủ hàng hay một người nào đó do chủ hàng chỉ định bằngcách ký hậu. Các chứng chỉ tiên gửi có thể chuyển nhượng Là giấy chứng nhận về việc gửi tiền và là một công cụ vay nợ của ngân hàng đối với người gửi tiền.Trên chứng chỉ qui định người sở hữu nó sẽ nhận được một khoản tiền lãi định kỳ và nhận đủ số vốn khiđáo hạn. Người nắm giữ chứng chỉ này không được rút tiền trước khi đến hạn mà chỉ có thể thu hồi tiền 5 6. bằng cách bán lại trên thị trường thứ cấp. Chứng chỉ tiền gửi là một công cụ quan trọng trong việc tạo nguồnvốn hoạt động và đảm bảo tính thanh khoản cho ngân hàng. Chấp phiếu ngân hàng Là giấy do một công ty phát hành, bảo đảm rằng một ngân hàng sẽ thanh toán vô điều kiện một khoảntiền nhất định vào một thời điểm nhất định trong tương lai cho người nắm giữ giấy này. Công ty trước khiphát hành công cụ này buộc phải gửi vào tài khoản ngân hàng một khoản tiền tương ứng với lượng tiền ghitrên chấp phiếu. Người nắm chấp phiếu ngân hàng cũng có thể chiết khấu lại trên thị trường để thu tiềntrước. Lãi suất của công cụ này tương đối thấp do tính an toàn cao. 3.2. Các công cụ trên thị trường vốn Các công cụ trên thị trường vốn bao gồm các công cụ vốn và các công cụ nợ có thời gian đáo hạn trênmột năm. Loại công cụ này có biến động giá mạnh hơn và tính thanh khoản thấp hơn các công cụ trên thịtrường tiền tệ và được coi là những khoản đầu tư khá rủi ro. Những loại công cụ chính là cổ phiếu (công cụvốn) và trái phiếu (công cụ nợ). Ngoài ra còn có các công cụ chuyển đổi hoặc các công cụ phát sinh. Cổ phiếu: là giấy Chứng nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp đối với thu nhập và tài sản của mộtcông ty cổ phần. Cổ phiếu bao gồm nhiều loại khác nhau như cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi cổ tức, cổphiếu ưu đãi dự phần… Trái phiếu: là giấy chứng nhận việc vay vốn của một chủ thể (chủ thể phát hành) đối với một chủ thểkhác (chủ thể cho vay vốn). Trên trái phiếu quy định hàng kỳ chủ thể phát hành phải trả cho người nắm giữtrái phiếu một khoản tiền nhất định (lãi tức trái phiếu) và tới thời điểm đáo hạn phải hoàn trả khoản vốn chovay ban đầu. Có nhiều loại trái phiếu khác nhau như trái phiếu công ty, trái phiếu chính phủ, trái phiếu đôthị, trái phiếu có thể chuyển đổi… Các khoản tín dụng cầm cố: là các khoản cho vay đối với các doanh nghiệp hoặc các hộ gia đình để muanhà ở, đất đai. bất động sản và dùng chính các tài sản này làm thế chấp cho khoản vốn vay. Các khoản tín dụng thương mại: là các khoản cho vay trung, dài hạn của các ngân hàng thương mạihoặc các công ty tài chính cho người tiêu dùng hoặc các doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn. Các khoản tíndụng này trường không được giao dịch mua bán trên thị trường thứ cấp nên tính thanh khoản rất thấp. Chứng chỉ quỹ đầu tư: là một loại chứng khoán do công ty quản lý quỹ đại diện cho một quỹ đầu tưchứng khoán phát hành, xác nhận quyền hưởng lợi của người đầu tư đối với quỹ. 4. Các trung gian tài chính Trung gian tài chính là những tổ chức làm cầu nối giữa những người cần vốn và những người cung cấpvốn trên thị trường. Trung gian tài chính, dù thuộc loại hình nào đi nữa, đều có chung một đặc điểm là pháthành các công cụ tài chính để thu hút vốn. Mức chênh lệch mà người trung gian nhận được giữa lãi suất chovay (hay lợi tức đầu tư) với lãi suất huy động vốn chính là chí phí trung gian hay hoa hồng trung gian. Khi 6 7. những người có vốn ký thác số vốn của mình vào các trung gian tài chính, khoản đầu tư của họ là đầu tưgián tiếp; còn khi trung gian tài chính đầu tư số vốn này, khoản đầu tư đó là đầu tư trực tiếp. 4.1. Các loại hình trung gian tài chính Các tổ chức trung gian tài chính gồm ba nhóm chính: các tổ chức nhận tiền gửi (ngân hàng), các tổ chứctiết kiệm theo hợp đồng và các trung gian đầu tư. a. Các tổ chức nhận tiền gửi Đây là các tổ chức tài chính trung gian lớn nhất trên thị trường tài chính xét theo phạm vi hoạt động vàkhả năng về vốn. Các tổ chức này huy động vốn bằng cách mở tài khoản séc và tài khoản tiết kiệm chokhách hàng, đồng thời sử dụng số vốn huy động được để cho vay theo nhiều hình thức khác nhau hoặc đầutư vào chứng khoán. Thu nhập của các tổ chức này đến từ hai nguồn: thu nhập từ các khoản cho vay và muachứng khoán; và thu nhập từ các khoản phí. Các tổ chức nhận tiền gửi bao gồm các ngân hàng thương mại, các hiệp hội tiết kiệm và cho vay(S&Ls), các ngân hàng tiết kiệm và các liên hiệp tín dụng. b. Các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng Các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng như công ty bảo hiểm và quỹ hưu trí là các trung gian tài chính huyđộng vốn dựa trên cơ sở hợp đồng theo định kỳ. Các tổ chức này có thể dự đoán tương đối chính xác khoảntiền họ sẽ thanh toán trong những năm tới nên không phải lo lắng về việc thiếu vốn như các tổ chức nhậntiền gửi. Do đó, các tổ chức này có thể đầu tư các loại chứng khoán dài hạn như trái phiếu, cổ phiếu công ty,các khoản cho vay cầm cố. Công ty bảo hiểm Công ty bảo hiểm là những trung gian tài chính đảm nhận việc thực hiện một khoản thanh toán mỗi khicó một sự kiện xảy ra, với một khoản đóng góp trước đó của người muốn thụ hưởng quyền lợi này. Công tybảo hiểm huy động vốn từ các khoản đóng góp của những người tham gia hợp đồng bảo hiểm và sử dụng phầnlớn số tiền huy động được để mua trái phiếu. Các công ty bảo hiểm cũng có thể đầu tư vào cổ phiếu song sốlượng rất hạn chế vì họ ngại tính rủi ro cao của cổ phiếu. Thu nhập của công ty bảo hiểm chủ yếu là các khoảnphí, ngoài ra còn có các khoản lợi tức đầu tư từ các công cụ tài chính. Quỹ hưu trí Quỹ hưu trí được thiết lập để thanh toán những khoản lợi ích của những người lao động khi họ về hưu.Thành lập ra những quỹ này là các doanh nghiệp tư nhân; các cơ quan nhà nước hoặc địa phương; cácnghiệp đoàn lao động nhân danh thành viên của mình, và cuối cùng là các cá nhân có nhu cầu. Đặc điểm của quỹ này là nó liên quan đến việc đầu tư vào một tài sản rất kém tính thanh khoản, đó làhợp đồng về tiền hưu trí. Tài sản này không được đem sử dụng, dù chỉ là để thế chấp cho một khoản vaycho đến khi về hưu. Tuy nhiên, lợi thế của các quỹ này là các khoản đóng góp của các ông chủ, và một khốilượng nhất định đóng góp của người lao động, cũng như thu nhập từ tài sản của quỹ, được phép đóng thuế 7 8. chậm. Về thực chất, quỹ hưu trí là một hình thức trả công của ông chủ mà người làm công không bị đánhthuế cho đến khi rút số tiền này. Nó có tác dụng khuyến khích những người làm công ở lại với doanhnghiệp. c. Các trung gian đầu tư Các trung gian đầu tư bao gồm các công ty tài chính, quỹ tương hỗ và quỹ tương hỗ thị trường tài chính. Công ty tài chính Công ty tài chính huy động vốn băng cách bán các thương phiếu hoặc phát hành cổ phiếu, trái phiếu.Sau đó, công ty sử dụng số vốn này cho người tiêu dùng vay để mua sắm nhà cửa, trang thiết bị, xe hơi…Một số công ty tài chính được một công ty mẹ thành lập để bán tài sản của công ty mình. Chẳng hạn, côngty tín dụng Ford có thể cho khách hàng vay để mua ôtô Ford. Quỹ tương hỗ Đây là một loại hình trung gian tài chính, huý động vốn bằng cách bán chứng chỉ quỹ cho các cá nhân vàdùng vốn đó để đầu tư vào danh mục cổ phiếu và trái phiếu đã được đa dạng hoá. Các quỹ tương hỗ thườngđược quản lý bởi một công ty quản lý quỹ. Một công ty quản lý quỹ có thể quản lý nhiều quỹ khác nhau đểđa dạng hoá đầu tư do mỗi quỹ thường chỉ tập trung đầu tư vào một số loại chứng khoán nhất định. Quỹ tương hỗ thị trường tiền tệ Thể chế tài chính tương đối mới này mang các đặc trưng của quỹ tương hỗ nhưng được phép mở tàikhoản tiền gửi cho khách hàng. Giống như hầu hết các quỹ tương hỗ, tổ chức này được phép bán cổ phiếuđể huy động vốn đồng thời sử dụng số vốn này để mua các công cụ an toàn và có tính thanh khoản cao trênthị trường tiền tệ. Lãi suất của các tài sản này sẽ được thanh toán định kỳ cho cổ đông. Trên đây là một số loại hình trung gian tài chính phổ biến. Mặc dù phương thức hoạt động cụ thể của tổchức này là khác nhau song chúng thể hiện rất rõ vai trò trung gian tài chính được đề cập dưới đây. 4.2. Vai trò của các trung gian tài chính a. Chuyển đổi thời gian đáo hạn của các công cụ tài chính Có thể nhận thấy chức năng này rõ nhất thông qua hoạt động của các tổ chức nhận tiền gửi, chủ yếu làcác ngân hàng thương mại. Nhờ có các trung gian tài chính, cả người đầu tư (người gửi tiền) và người đi vayđều có thể lựa chọn dược những thời hạn thích hợp với mục tiêu của mình. b. Giảm thiểu rủi ro bằng cách đa dạng hoá đầu tư Loại hình trung gian tài chính càng phong phú, các sản phẩm tài chính do chúng tạo ra càng đa dạng.Khi các nhà đầu tư đặt tiền của họ vào các công ty đầu tư, những công ty này có thể dầu tư số tiền đó vào,chẳng hạn, cổ phiếu của một số lớn các công ty. Bằng cách đó, công ty đầu tư đã đa dạng hoá việc đầu tư vàgiảm thiểu được rủi ro của nó. Điều này chỉ có thể thực hiện dược với diều kiện có dược một khối lượngtiền đủ lớn; và nó giải thích vì sao việc đa dạng hoá đầu tư, tức biến những tài sản nhiều rủi ro thành những 8 9. tài sản ít rủi ro hơn, lại là ưu thế của các trung gian tài chính và rộng hơn, là lợi ích kinh tế quan trọng củacác thị trường tài chính. c Giảm thiểu chi phỉ hợp đồng và chi phí xử lý thông tin Những nhà đầu tư vào các tài sản tài chính phải có được những kỹ năng cần thiết để đánh giá một khoảndầu tư phân tích khả năng lợi nhuận, mức độ rủi ro của từng tài sản tài chính cũng như của toàn bộ khoảnmục đầu tư để từ đó ra quyết định mua hoặc bán các tài sản tài chính. Tuy nhiên, các nhà đầu tư cá nhânthường không có điều kiện để phát triển những kỹ năng này, cả về mặt thời gian và kiến thức. Họ thườngphải thuê người viết hợp đồng, làm phát sinh chi phí hợp đồng. Bên cạnh đó, để xác nhận mức độ tin cậy vàxử lý những thông tin thu thập dược về tài sản tài chính và về người phát hành tài sản đó, nhà đầu tư cũngphải bỏ ra một khoảng thời gian và chi phí nhất định, được gọi là chi phí xử lý thông tin. Các trung gian tài chính, với tư cách là các nhà đầu tư chuyên nghiệp, có thể giảm thiểu tất cả những chiphí đó do ưu thế về tính tập trung, chuyên môn hoá và quy mô đầu tư lớn hơn. d. Cung cấp một cơ chế thanh toán Ngày nay đa số các giao dịch được thực hiện mà không dùng tiền mặt. Việc thanh toán có thể sử dụngséc, thẻ tín dụng, hoặc việc chuyển tiền điện tử. Một số trung gian tài chính sẽ đảm nhiệm việc cung cấpnhững phương thức thanh toán này. Trước đây, việc thanh toán không dùng tiền mặt chỉ được giới hạn ở các tài khoản vãng lai có thể ký séctại các ngân hàng thương mại, sau đó được mở rộng ra các hiệp hội tín dụng, và một số công ty đầu tư.Thanh toán bằng thẻ tín dụng trước đây cũng chỉ được thực hiện tại các ngân hàng thương mại nhưng giờdây các tổ chức nhận tiền gửi công cung cấp dịch vụ này. Như vậy, việc thanh toán không dùng tiền mặt đãtrở thành một trong các chức năng quan trọng của trung gian tài chính. 5. Mối quan hệ giữa các bộ phận của thị trường tài chính Qua nghiên cứu về cấu trúc của thị trường tài chính, người ta có thể nhận thấy giữa các thị trường cấuthành có mối quan hệ chặt chẽ và biện chứng với nhau. Những biến động trên thị trường này sẽ ảnh hưởngtrực tiếp hoặc gián tiếp đến các thị trường khác. Khi nền kinh tế phát triển, thị trường tài chính ngày càngtrở nên tinh vi và phức tạp, ranh giới truyền thống giữa các công cụ tài chính hay giữa các loại thị trườngngày càng mang tính tương đối. Các công cụ tài chính được lưu thông đan xen giữa các loại thị trường vàđược chuyển hoá lẫn nhau. những công cụ mới không ngừng ra đời, trong đó có nhiều loại công cụ hỗn hợpmang những đặc trưng của nhiều loại công cụ khác nhau. Do đó các bộ phận của thị trường tải chính càngtrở nên gắn bó chặt chẽ với nhau. Dưới đây sẽ trình bày một số quan hệ tồn tại hiện nay trên thị trường tàichính. Mối quan hệ giữa thị trường tiền tệ và thị trường ngoại hối. Thị trường ngoại hối và thị trường tiền tệ có quan hệ khăng khít với nhau, không có thị trường nào hoạtđộng một cách độc lập tuyệt đối mà chúng tác động qua lại và chi phối lẫn nhau. Một biến động trên thị 9 10. trường tiền tệ đều dẫn dấn những thay đổi trên thị trường ngoại hối. Các mối quan hệ hình thành giữa hai thịtrường này chủ yếu thông qua hai biến số cơ bản: lãi suất và tỷ giá. Sự biến động của lãi suất trên thị trườngtiền tệ có thể tác động dấn các luồng vốn di chuyển giữa hai thị trường này, ảnh hưởng tới mối quan hệ cung- cầu về ngoại tệ, làm tỷ giá hôi đoái trên thị trường ngoại hối thay đổi. Để minh hoạ cho mối quan hệ nàycó thể xem xét một thực tế như sau: Cho tới tháng 6 năm 2000, trong vòng hơn một năm, Cục dự trữ Liênbang Mỹ đã liên tục 6 lần tăng lãi suất. Theo một phản ứng dây chuyền, Ngân hàng trung ương châu Âucũng nâng lãi suất và lãi suất trên thị trường liên ngân hàng theo đó tăng lên. Chịu ảnh hưởng của xu hướngnày, các ngân hàng thương mại Việt Nam cũng từng bước nâng lãi suất huy động ngoại tệ tăng nên đã cómột khối lượng khá lớn tiền gửi VND được rút ra khỏi tài khoản ngân hàng để mua ngoại tệ trên thị trườngvà sau đó lại được gửi vào ngân hàng bằng USD để hưởng phần lãi suất cao hơn. Vốn huy động ngoại tệtăng mạnh ở một số ngân hàng thương mại. Mặt khác, mặc dù lãi suất huy động USD đã được nâng lên songvẫn thấp hơn lãi suất USD trên thị trường quốc tế (chênh lệch vào khoảng 1,4 – 1,8% vào thời điểm đầu năm2000), khiến cho việc huy động ngoại tệ trong nước và chuyển ra nước ngoài để hưởng lãi suất cao hơn trởthành một hoạt động sinh lời hấp dẫn đối với các ngân hàng thương mại. Nhu cầu ngoại tệ trên thị trườngngoại hối vì vậy gia tăng nhanh chóng và do đó tỷ giá có xu hướng bị đẩy lên. Mối quan hệ giữa thị trường tiền tệ và thị trường chứng khoán Mối quan hệ giữa thị trường tiền tệ và thị trường chứng khoán được thể hiện thông qua sự tác động củalãi suất và tỷ giá hối đoái lên giá cả chứng khoán. Tỷ giá hối đoái là nhân tố tác động mạnh mẽ tới quyết định đầu tư trên thị trường chứng khoán. Khi cácnhà đầu tư vào chứng khoán và sẽ thay thế bàng tài sản ngoại tệ vì chứng khoán chính là tiền, nếu tiền mấtgiá thì giá trị chứng khoán sẽ bị giảm. Các nhà đầu tư này có thể sẽ chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài. Nhưvậy, tác động của tỷ giá hối đoái đã làm dịch chuyển đầu tư từ thị trường chứng khoán sang thị trường hốiđoái hoặc ngược lại. Lãi suất thị trường là nhân tố tác động trực tiếp tới giá cả chứng khoán thông qua việc thay đổi mức lợisuất yêu cầu của các nhà đầu tư khi chấp nhận đầu tư vào chứng khoán đó. Khi thị trường tiền tệ có dấu hiệuthay đổi lãi suất chiết khấu và lãi suất tái chiết khấu từ ngân hàng trung ương thì lập tức sẽ ảnh hưởng tớilượng tiền cung ứng và tác động tới cung tín dụng từ phía ngân hàng thương mại, đồng thời cũng tác độngtới giá cả chứng khoán. Tuy nhiên, mức độ tác động của lãi suất vào giá cả trái phiếu và cổ phiếu lại khácnhau. Lãi suất tác động trực tiếp tới giá trái phiếu, khi lãi suất chiết khấu tăng (hoặc giảm) thì giá trái phiếutrên thị trường sẽ giảm (hoặc tăng). Còn đối với cổ phiếu, quan hệ giữa lãi suất và giá không phải là mốiquan hệ trực tiếp và hoàn toàn một chiều. Mức độ ảnh hưởng của lãi suất lên giá cổ phiếu phụ thuộc vàonguyên nhân gây ra thay đổi đó và mức độ tác động của thay đổi này lên dòng thu nhập tương lai của cổphiếu. Tuy nhiên, qua nghiên cứu cho thấy mối quan hệ giữa lãi suất và giá cổ phiếu thường là ngược chiều 10 11. do khi lãi suất thị trường tăng, giá trái phiếu giảm thì người đầu tư có xu hướng chuyển từ đầu từ cổ phiếusang trái phiếu khiến cho giá cổ phiếu giảm và ngược lại. Tóm lại, quá trình lưu chuyển vốn trên thị trường tài chính thể hiện ở sơ đồ lưu chuyển tiền tệ sau đây: Qua sơ đồ trên ta thấy được mức độ phát triển của thị trường tài chính có ý nghĩa quan trọng đối với việckhuyến khích tiết kiệm, khuyến khích đầu tư và thúc đẩy quá trình vốn hoá trong nền kinh tế. Đặc biệt ở đâyphải kể đến vai trò của các tổ chức trung gian tài chính, bộ phận đã chuyển tải một khối lượng đáng kểnguồn tiết kiệm đưa vào đầu tư và góp phần tích cực trong việc đẩy nhanh tốc độ lưu chuyển vốn. Sơ đồ Qua sơ đồ trên có thể thấy thị trường tài chính là đối tượng tác động của các chính sách tiền tệ của ngânhàng trung ương (hay rộng hơn, các chính sách tài chính – tiền tệ của chính phủ), nhằm đạt được các mụctiêu của nền kinh tế. Tất cả những biện pháp chính sách đều tác động tới các bộ phận của thị trường tàichính theo những phương thức khác nhau và đan chéo nhau. Thị trường tài chính càng phát triển ở trình độcao, các kênh liên hệ càng nhiều (do có nhiều loại hình trung gian tài chính; cung cấp nhiều dịch vụ tàichính thông qua các công cụ tài chính ngày càng đa dạng) thì tính nhạy cảm với các biện pháp chính sách càng cao. II. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 1. Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển thị trường chứng khoán Thị trường chứng khoán ban đầu phát triển một cách rất tự phát và sơ khai, xuất phát từ một nhu cầu đơnlẻ từ buổi ban đầu. Vào giữa thế kỷ XV ở tại những thành phố trung tâm buôn bán ở phương Tây, cácthương gia thường tụ tập tại các quán cà phê để trao đổi mua bán các vật phẩm hàng hoá… lúc đầu chỉ mộtnhóm nhỏ, sau đó tăng dần và hình thành một khu chợ riêng. Cuối thế kỷ XV, để thuận tiện hơn cho việclàm ăn, khu chợ trở thành “thị trường” với việc thống nhất các quy ước và dần dần các quy ước này đượcsửa đổi hoàn chỉnh thành những quy tắc có giá trị bắt buộc chung cho mọi thành viên tham gia “thị trường”. Phiên chợ riêng đầu tiên được diễn ra vào năm 1453 tại một lữ điếm của gia đình Vanber ở Bruges (Bỉ),tại đó có một bảng hiệu hình ba túi da với một từ tiếng Pháp là "Bourse" tức là "Mậu dịch thị trường" haycòn gọi là "Sở giao dịch". Vào năm 1547, thành phố ở Bruges (Bỉ) mất đi sự phồn thịnh do eo biển Even bị lấp cát nên mậu dịchthị trường ở đây bị sụp đổ và được chuyển qua thị trấn Auvers (Bỉ), ở đây thị trường phát triển rất nhanh vàgiữa thế kỷ XVI một quan chức đại thần của Anh quốc đã đến quan sát về thiết lập một mậu dịch thị trườngtại London (Anh), nơi mà sau này được gọi là Sở Giao dịch chứng khoán London. Các mậu dịch thị trườngkhác cũng lần lượt được thành lập tại Pháp, Đức, và Bắc Âu. Sự phát triển thị trường ngày càng mạnh cả về lượng và chất với số thành viên tham gia đông đảo và nhiềunội dung khác nhau, vì vậy theo tính chất tự nhiên nó lại được phân ra thành nhiều thị trường khác nhau như: 11 12. thị trường giao địch hàng hoá, thị trường hối đoái, thị trường giao dịch các hợp đồng tương lai và thị trườngchứng khoán… với đặc tính riêng của từng thị trường thuận lợi cho giao dịch của người tham gia trong đó. Quá trình các giao dịch chứng khoán diễn ra và hình thành như vậy một cách tự phát cũng tương tự ởPháp, Hà Lan, các nước Bắc Âu, các nước Tây Âu khác và Bắc Mỹ. Các phương thức giao dịch ban đầu được diễn ra ngoài trời với những ký hiệu giao dịch bằng tay và cóthư ký nhận lệnh của khách hàng. Cho đến năm 1921, ở Mỹ, khu chợ ngoài trời được chuyển vào trong nhà,Sở giao dịch chứng khoán chính thức được thành lập. Ngày nay, cùng với sự phát triển của công nghệ, khoa học kỹ thuật, các phương thức giao dịch tại các sởgiao dịch chứng khoán cũng đã được cải tiến theo tốc độ và khối lượng yêu cầu nhằm đem lại hiệu quả vàchất lượng cho giao dịch. Các sở giao dịch dần dần sử dụng máy vi tính để truyền các lệnh đặt hàng vàchuyển dần từ giao dịch thủ công kết hợp với máy vi tính sang sử dụng hoàn toàn hệ thống giao dịch điệntử. Lịch sử phát triển các thị trường chứng khoán thế giới trải qua một sự phát triển thăng trầm lúc lên, lúcxuống. Vào những năm 1875 – 1913, thị trường chứng khoán thế giới phát triển huy hoàng cùng với sự tăngtrưởng của nền kinh tế thế giới lúc đó, nhưng rồi đến “ngày thứ Năm đen tối”, tức nguy 29- 10- 1929, thịtrưởng chửng khoán Tây Âu, Bắc Âu và Nhật Bản đã khủng hoảng. Mãi cho tới khi chiến tranh thế giới thứhai kết thúc, các thị trường mới dần phục hồi và phát triển mạnh và cho tới năm 1987, một lần nữa các thịtrường chứng khoán trên thế giới điên đảo với "ngày thứ Hai đen tối" do hệ thống thanh toán kém cỏi khôngđảm đương được yêu cầu của giao dịch, sụt giá chứng khoán mạnh, gây mất lòng tin và phản ứng dâychuyền mà hậu quả của nó còn nặng hơn cuộc khủng hoảng năm 1929. Gần đây nhất, thị trường chứngkhoán ở các nước và lãnh thổ Đông Á, Nga và một số thị trường ở châu Mỹ cũng đã rơi vào vòng xoáy củacơn lốc khủng hoảng tài chính tiền tệ, giảm lòng tin và có tính chất lây lan, tạo ra sự suy giảm ghê gớm chỉsố giá chứng khoán. Cho đến nay, các nước trên thế giới đã có khoảng trên 160 sở giao dịch chứng khoán phân tán trên khắpcác châu lục, bao gồm cả các nước phát triển trong khu vực Đông Nam Á vào những năm 1960 – 1970 vànhững nước như Ba Lan, Hunggary, Séc, Nga, Trung quốc vào những năm đầu 1990… Quá trình hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán thế giới cho thấy giai đoạn đầu thị trườngphát triển một cách tự phát với sự tham gia của các nhà đầu cơ. Dần dần về sau mới có sự tham gia của côngchúng đầu tư. Khi phát triển đến một mức độ nhất định, thị trường bắt đầu phát sinh những trục trặc dẫn đếnphải thành lập cơ quan quản lý nhà nước và hình thành hệ thống pháp lý để điều chỉnh hoạt động của thịtrường. Kinh nghiệm cho thấy, phần lớn các thị trường chứng khoán sau khi thiết lập muốn hoạt động cóhiệu quả, ổn định và nhanh chóng phát triển vững chắc phải có sự chuẩn bị chu đáo mọi mặt về hàng hoá,luật pháp, con người, bộ máy quản lý và đặc biệt là sự giám sát và quản lý nghiêm ngặt của nhà nước. Songcũng có một số thị trường chứng khoán có sứ trục trặc ngay từ ban đầu như thị trương chứng khoán Thái 12 13. Lan, Indonesia, hoạt động trì trệ một thời gian dài do thiếu hàng hoá và do không được quan tâm đúng mức,thị trường chứng khoán Phihppines kém hiệu quả do thiếu sự chỉ đạo và quản lý thống nhất hai sở giao dịch(Makita và Manila), thị trường chứng khoán Ba Lan, Hunggary gặp trục trặc do việc chỉ đạo giá cả quá cao hoặc quá thấp… Tuy nhiên, cho tới nay, thi trường chứng khoán phát triển ở mức có thể nói là không thể thiếu trong đờisống kinh tế của những nước theo cơ chế thị trường và nhất là những nước đang phát triển dang cần thu hútluồng vốn dài hạn cho nền kinh tế quốc dân. 2. Giới thiệu thị trường chứng khoán các nước Các thị trường cổ phiếu lớn trên thế giới: (Biểu đồ) Trong đó: NYSE: Sở Giao dịch chửng khoán New York. LSE: Sở Giao dịch chứng khoán London. TSE: Sở Giao dịch chứng khoán Tokyo. NASDAQ: Hiệp hội các Nhà kinh doanh chứng khoán Quốc gia và hệ thống Báo giá tự động. HKSE: Sở Giao dịch chứng khoán Hongkong. SSE: Sở Giao dịch chứng khoán Singapore. 1 Đối với NYSE, LSE, TSE, NADAQ, số liệu về dung lượng vốn thị trường nội địa được tính đến 31-3-1998; đối với các thị trường khác, tổng dung lượng vốn thị trường dược tính đến năm 1997. 2 Tổng số các loại chứng khoán được niêm yết tính đến năm 1997. Để giúp bạn đọc hình dung được cơ cấu và hoạt động của thị trường chứng khoán, chúng tôi xin giớithiệu sơ bộ về một số thị trường chứng khoán trên thế giới. Thị trường chứng khoán Mỹ Thị trường chứng khoán Mỹ có lịch sử phát triển lâu đài và đã đạt đến trình độ cao về mọi mặt, từ hệthống luật chứng khoán đến hệ thống giao dịch chứng khoán và đặc biệt đã xây dựng được cơ quan quản lýnhà nước mạnh. Chính vì vậy, mô hình thị trường chứng khoán Mỹ đã được nhiều nước học tập, áp dụng vàsửa đổi cho phù hợp với thực trạng, điều kiện kinh tế của từng nước. Thị trường chứng khoán Mỹ xuất hiệntừ năm 1792 và đến năm 1800 đánh dấu sự ra đời Sở Giao dịch chứng khoán đầu tiên, tiếp theo đó là hàngloạt các Sở Giao dịch chứng khoán được hình thành trên khắp nước Mỹ. Sở Giao dịch chứng khoán New York (NYSE) là sở giao dịch lớn nhất và lâu đời nhất nước Mỹ. Năm2000, tổng số có 262,5 tỷ cổ phần được giao dịch trên NYSE, số cổ phần giao dịch bình quân ngày đạt1.041,6 triệu, đây là lần đầu tiên có số cổ phần giao dịch bình quân ngày vượt con số 1 triệu cổ phần. Giá trị 13 14. giao dịch bình quân ngày cũng đạt 43,9 tỷ USD, tổng giá trị giao dịch trong năm 2000 của NYSE đạt 11,1nghìn tỷ USD. năm 2000 cũng là nam hoàn thiện hơn nữa hệ thống giao dịch bằng sự thay đổi của cách yếtgiá (yết giá dạng thập phân thay vì dạng phân số trước kia). Cuối năm 2000 có 2.862 cổ phiếu dược niêmyết trên NYSE với tổng giá trị là 17,1 nghìn tỷ USD. Khác với NYSE, Sở giao dịch chứng khoán NASDAQ nổi tiếng về bề dày lịch sử cũng như phươngthức giao dịch truyền thống, NASDAQ, một sở xuất hiện hệ thống giao dịch chứng khoán điện tử đầu tiêntrên thế giới, NASDAQ đã đi tiên phong trong lĩnh vực đổi mới, sử dụng thiết bị công nghệ để cho hàngtriệu nhà đầu tư được tiếp cận với các công ty hàng đầu trên thế giới. các giao dịch chửng khoán trênNASDAQ được thực hiện thông qua hệ thống mạng máy tính và điện thoại theo mô hình của thị trường toàncầu. Hiện nay trên NASDAQ có tới trên 5000 công ty niêm yết. Thị trường chứng khoán Nhật Bản Thị trường chứng khoán thật Bản thu hút khoảng trên dưới 20% tài sản cá nhân của người Nhật, trongđó một nửa đầu tư vào cổ phiếu, còn một nửa đầu tư vào các chứng khoán khác (trái phiếu chính phủ, tráiphiếu công ty, đầu tư tín thác…). Do vậy, có thể thấy rằng thị trường chứng khoán Nhật Bản đóng vai tròquan trọng trong việc thu hút vốn dài hạn cho Chính phủ và các công ty. Hiện nay cũng như trong nhiều năm qua, Sở Giao dịch Chửng khoán Tokyo (TSE) là Sở giao dịch lớnthứ hai trên thế giới về doanh số bán, chỉ sau NYSE. Trên TSE, việc giao dịch, mua bán chứng khoán được quy định dựa trên các nguyên tắc cơ bản quantrọng nhất là: Nguyên tắc công khai: công khai về hoạt động của người phát hành; các loại chứng khoán được chàobán, đặt mua; giá cả, số lượng chứng khoán được mua bán… Nguyên tắc trung gian mua bán: mọi hoạt động mua bán chứng khoán đều phải qua môi giới là các côngty chứng khoán được quyền hoạt động trên TSE (TSE có 125 công ty chứng khoán, trong đó có 25 công tynước ngoài) để đảm bảo sự tin cậy của thị trường, tránh sự giả mạo, lừa đảo. Nguyên tắc tập trung: có nghĩa là tập trung tất cả mọi đơn đặt hàng, đơn chào bán vào TSE để đảm bảoviệc hình thành giá cả trung thực, hợp lý. Nguyên tắc đấu giá: bao gồm quyền ưu tiên giá (ưu tiên giá chào bán thấp nhất và giá đặt mua cao nhất)và quyền ưu tiên về thời gian. Sau khi đưa hệ thống giao dịch bằng máy tính chính thức đi vào hoạt động (ngày 18-3-1991), hiện nay,các cổ phiếu trên TSE vẫn được giao dịch theo hai phương thức khác nhau: giao dịch tại sàn và thông qua hệthống máy tính. Trên TSE, hầu hết các giao địch mua bán chứng khoán được thanh toán vào ngày làm việc thứ ba saungày giao dịch (T+3). Vào ngày T+1, nếu phát hiện thấy sai sót nào trong quá trình giao dịch, các công tychứng khoán thành viên phải báo ngay cho TSE để điều Chỉnh. Vào ngày T+2, Trung tâm lưu ký và thanh 14 15. toán bù trừ (JASDEC) kết hợp với TSE thực hiện thanh toán bù trừ các giao dịch mua bán chứng khoángiữa các công ty thành viên. Vào ngày T+3, Trung tâm thực hiện các bút toán ghi sổ kế toán và thực hiệnthanh toán chứng khoán và tiền cho các giao dịch. Thị trường chứng khoán Hàn Quốc Ít nhất từ những năm 1950, thị trường chứng khoán Hàn quốc đã trở thành một trong 10 thị trườngchứng khoán lớn nhất thế giới. Thị trường này đã phát triển một cách nhanh chóng. Chỉ trong giai đoạn năm1990 – 1999, khối lượng giao dịch cổ phiếu đã tăng từ 53 triệu tỷ won lên 867 triệu tỷ won, khối lượng giaodịch trái phiếu tăng từ 39 triệu tỷ lên đến 2.183 triệu tỷ won, trong khi đó giá trị niêm yết trên thị trườngcũng tăng từ 79 triệu tỷ won lên 350 triệu tỷ won. Sở Giao dịch chứng khoán Hàn Quốc (KSE) là một sàn giao dịch có tổ chức ở Hàn Quốc, có 3 khu vựcgiao dịch: các khu vực cho cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán phái sinh. Khu vực cho cổ phiếu đượcchia ra thành khu vực thử nhất và khu vực thứ hai. Khu vực thứ nhất dành cho các công ty có quy mô lớn vàtài chính mạnh, với hơn 80% tổng số cổ phiếu trên thị trường. Khu vực thứ hai là địa điểm cho các cổ phiếu mới được niêm yết,hoặc cho các công ty có tài chính yếu được giao dịch. KSE đôi khi phải được sự chấp thuận của SEC trongtrường hợp muốn niêm yết cổ phiếu của công ty có đủ tiêu chuẩn niêm yết trên KSE, nhưng chưa từng chàobán cổ phiếu của mình ra công chúng trước đó. Ví dụ, khi một công ty đăng ký trên thị trường OTC muốnniêm yết các cổ phiếu của mình trực tiếp trên KSE, KSE cần phải được sự chấp thuận của SEC trước khicho phép công ty đó niêm yết. Tuy vậy việc niêm yết trực tiếp này là rất hiếm. Đến tháng 3-2001, tổng số công ty chứng khoán hoạt động tại đàn Quốc là 64 công ty, trong đó có 43công ty trong nước và 21 công ty nước ngoài. Thị trường chứng khoán Thái Lan Thị trường chứng khoán Thái Lan là một trong những thị trường chứng khoán phát triển nhanh nhất ởkhu vực châu Á. Thị trường chứng khoán ban đầu được các công ty tư nhân thành lập (vào tháng 7-1962),mãi cho đến năm 1992 Uỷ ban chứng khoán, cơ quan quản lý trực tiếp thị trường chứng khoán Thái Lanmới được thành lập. Tại Thái Lan, các công ty chứng khoán muốn trở thành thành viên của Sở Giao dịchchứng khoán thì phải được Bộ Tài chính đồng ý. Theo luật về sở giao dịch chứng khoán, các thành viên phảicó khả năng tài chính mạnh, có khả năng thực hiện các giao dịch chứng khoán và có kinh nghiệm trong cáchoạt động giao dịch đó. Thị trường chứng khoán Thái Lan cũng là nơi điển hình của việc sử dụng hệ thống vi tính hoàn toàn tựđộng. Với hệ thống giao dịch tự động này, Sở Giao dịch chứng khoán Thái Lan cho phép các công ty chửngkhoán thông qua hệ thống vi tính thực hiện các giao dịch ngay tại văn phòng của hộ mà không cần trực tiếpđến sở. 3. Bản chất và chức năng của thị trường chứng khoán 15 16. 3.1. Bản chất của thị trường chứng khoán Thị trường chứng khoán trong điều kiện của nền kinh tế hiện đại, được quan niệm là nơi diễn ra các hoạtđộng giao dịch mua bán các loại chứng khoán trung và dài hạn. Việc mua bán này được tiến hành ở thịtrường sơ cấp khi người mua mua được chứng khoán lần đầu từ những người phát hành, và ở thị trường thứcấp khi có sự mua đi bán lại các chứng khoán đã được phát hành ở thị trường sơ cấp. Như vậy, xét về mặthình thức, thị trường chứng khoán chỉ là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán, chuyển nhượng cácloại chứng khoán, qua đó thay đổi các chủ thể nắm giữ chửng khoán. Nhưng xét về mặt bản chất thì: Thị trường chứng khoán là nơi tập trung và phân phối các nguồn vốn tiết kiệm. Tập trung các nguồn tiếtkiệm để phân phối lại cho những ai muốn sử dụng các nguồn tiết kiệm đó theo giá mà người sử dụng sẵn sàngtrả và theo phán đoán của thị trường về khả năng sinh lời từ các dự án của người sử dụng. Chuyển từ tư bản sởhữu sang tư bản kinh doanh. Thị trường chứng khoán là định chế tài chính trực tiếp: cả chủ thể cung và cầu vốn đều tham gia vào thịtrường một cách trực tiếp. Ngược với cách tài trợ gián tiếp được thực hiện thông qua các trung gian tàichính, những người có vốn có khi có đủ điều kiện về môi trường tài chính, pháp lý… sẽ trực tiếp đầu tư vàosản xuất, kinh doanh không cần qua các trung gian tài chính mà chuyển vốn thông qua thị trường chứngkhoán, một thị trường dẫn vốn trực tiếp từ người có vốn sang người cần vốn theo nguyên tắc đầu tư. Với việc đầu tư qua các trung gian tài chính, các chủ thể đầu tư không thể theo dõi, kiểm tra, quản lývốn đầu tư của họ, do đó làm cho quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn tách rời nhau, làm giảm động lựctiềm năng trong quản lý. Trái lại, với việc đầu tư qua thị trường chứng khoán, kênh dẫn vốn trực tiếp, cácchủ thể đầu tư đã thực sự gắn quyền sử dụng và quyền sở hữu về vốn, nâng cao tiềm năng quản lý vốn. Thị trường chứng khoán thực chất là quá trình vận động của tư bản tiền tệ. Các chứng khoán mua bántrên thị trường chứng khoán có thể đem lại thu nhập cho người nắm giữ nó sau một thời gian nhất định vàđược lưu thông trên thị trường chứng khoán theo giá cả thị trường, do đó bề ngoài nó được coi như là một tưbản hàng hoá. Có thể nói, thị trường chứng khoán là nơi mua bán các quyền sở hữu về tư bản, là hình thức phát triểncao của nền sản xuất hàng hoá. Thị trường chứng khoán cũng gắn với loại hình tài chính ngắn hạn. Những người có chứng khoán có thểmua bán chứng khoán tại bất kỳ thời điểm nào trên thị trường chửng khoán, nên các chứng khoán trung vàdài hạn cũng trở thành đối tượng đầu tư ngắn hạn. 3.2. Chức năng của thị trường chứng khoán a. Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán do các công ty phát hành, số tiền nhàn rỗi của họ được đưa vàohoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần mở rộng sản xuất xã hội. Bằng cách hỗ trợ các hoạt độngđầu tư của công ty, thị trường chứng khoán đã có những tác động quan trọng đối với sự phát triển của nền 16 17. kinh tế quốc dân. Thông qua thị trường chứng khoán, chính phủ và chính quyền ở các địa phương cũng huyđộng được các nguồn vốn cho mục đích sử dụng và đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ các nhu cầuchung của xã hội. b. Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng Thị trường chứng khoán cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với các cơ hội lựachọn phong phú. Các loại chứng khoán trên thị trường rất khác nhau về tính chất, thời hạn và độ rủi ro, chophép các nhà đầu tư có thể lựa chọn cho loại hàng hoá phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của mình.Chính vì vậy, thị trường chứng khoán góp phần đáng kể làm tăng mức tiết kiệm quốc gia. c Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán Nhờ có thị trường chứng khoán các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán họ sở hữu thành tiềnmặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họ muốn. Khả năng thanh khoản (khả năng chuyển đổi thành tiềnmặt) là một trong những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán dối với người đầu tư. Đây là yếu tố cho thấy tínhlinh hoạt, an toàn của vốn đầu tư. Thị trường chứng khoán hoạt động càng năng động và có hiệu quả thìcàng có khả năng nâng cao tính thanh khoản của các chứng khoán giao dịch trên thị trường. d. Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp Thông qua giá chứng khoán, hoạt động của các doanh nghiệp được phản ảnh một cách tổng hợp vàchính xác, giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt động của các doanh nghiệp được nhanh chóng và thuậntiện, từ đó cũng tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kíchthích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm. e. Tạo môi trường giúp chính phủ thực hiện các chính sách kinh tê vĩ mô Các chỉ báo của thị trường chứng khoán phản ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạy bén và chínhxác. Giá các chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư đang mở rộng, nền kinh tế tăng trưởng; và ngược lại giáchứng khoán giảm sẽ cho thấy các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế. Vì thế,

Trả lời

Back to top button