lý thuyết tài chính hành vi trên thị trường chứng khoán việt nam

TS. Đặng Văn Dân – Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh

08:51 11/04/2016

Thị trường chứng khoán Việt Nam đã trải qua 16 năm hình thành và phát triển, song trên thực tế nhiều thao tác giao dịch trên thị trường còn nặng về cảm xúc, tâm lý… những vấn đề này tạo ra những tình huống bất thường cho thị trường. Trên góc độ lý thuyết tài chính hành vi, bài viết đưa ra lý giải về những tồn tại trên thị trường chứng khoán Việt Nam có liên quan đến yếu tố hành vi, qua đó đề xuất những giải pháp về mặt chính sách điều hành thị trường dựa vào các nguyên tắc tâm lý của con người.

Top 10 sự kiện chứng khoán nổi bật năm 2015
Sẽ có nhiều giải pháp nâng tầm thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán Việt Nam 2016: Nhiều kỳ vọng tăng trưởng
Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước thúc đẩy thị trường chứng khoán phát triển

Nguyên lý cơ bản về lý thuyết tài chính hành vi

Lý thuyết kỳ vọng

Nhà đầu tư (NĐT) chứng khoán có khuynh hướng xem trọng khả năng bù đắp một khoản lỗ hơn là kiếm được nhiều lợi nhuận. Trong trường hợp khoản đầu tư có khả năng mang lại lợi nhuận, họ thích nắm chắc ngay khoản lợi nhuận hiện tại hơn là cố gắng tiếp tục đầu tư để thu được nhiều lợi nhuận hơn trong tương lai. Trong trường hợp ngược lại, khi khoản đầu tư có nguy cơ thua lỗ thì họ lại cố gắng duy trì với hy vọng tình hình sẽ khá hơn và có thể sinh lời trong tương lai bất chấp rủi ro thua lỗ nhiều hơn là rất lớn. Căn cứ vào thông tin chiều hướng tích cực trên thị trường, các NĐT mua cổ phiếu và sẽ nhanh chóng tiến hành bán cổ phiếu đó khi giá tăng và đạt được lợi nhuận mong muốn mà không phân tích khả năng tăng thêm lợi nhuận. Bởi lẽ, họ tin rằng giá cổ phiếu hiện đã phản ánh đầy đủ thông tin kỳ vọng.

Đang xem: Lý thuyết tài chính hành vi trên thị trường chứng khoán việt nam

Sự ghét rủi ro

Tính chất bất cân xứng trong tâm lý NĐT giữa những giá trị mà họ kỳ vọng vào lợi nhuận và thua lỗ, chính là sự ghét rủi ro. Nhiều bằng chứng thực nghiệm đã chỉ ra rằng, biến cố thua lỗ thì được cân nặng gấp nhiều lần so với biến cố lợi nhuận. Chẳng hạn như NĐT có xu hướng duy trì vị thế lỗ với hy vọng rằng giá cuối cùng sẽ phục hồi. Sự ghét rủi ro có thể giải thích cho hành vi của NĐT giữ chứng khoán bị lỗ quá lâu trong khi bán chứng khoán lời quá sớm.

Tính toán bất hợp lý

NĐT có xu hướng chia tách các quyết định vào các “tài khoản ảo” riêng trong trí não thay vì kết hợp chúng lại thành một thể thống nhất và thường xử lý các quyết định này độc lập, không chú ý đến tính tương quan của chúng. Cũng từ đó, họ đưa ra các quyết định nhìn tưởng là hợp lý, mà thật ra lại sai lầm.

Sử dụng tính toán bất hợp lý và định nghĩa hẹp, chúng ta có thể giải thích các hiện tượng như sợ thua lỗ, lựa chọn nghịch với sở thích và hiệu ứng phân bổ tài khoản, thể hiện cơ bản ở chỗ người ta sẵn sàng thực hiện ngay những lệnh mang lại lời nhỏ, nhưng trì hoãn không thực hiện lệnh dừng lỗ khi xuất hiện những khoản lỗ nhỏ. Hiệu ứng phân bổ tài khoản này cũng có thể được lý giải bằng sự tự lừa dối, sợ rằng nếu bán mà bị lỗ thì sẽ cảm thấy bản thân có quyết định đầu tư kém, hay sự tiếc nuối, tức lỡ bán rồi mà giá lên thì sao? Hiệu ứng phân bổ tài khoản cũng giúp lý giải một phần vì sao trong những thị trường tăng giá thì khối lượng giao dịch tăng cao hơn khi thị trường giảm giá tại các thị trường lớn.

Sự tự tin thái quá

NĐT thường cho rằng, bản thân họ tốt hơn những người khác, thường phóng đại những hiểu biết của mình. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, với các NĐT quá tự tin, họ giao dịch nhiều hơn những NĐT khác. Trạng thái quá tự tin làm tăng các hoạt động giao dịch bởi vì nó khiến các NĐT sẵn sàng về quan điểm của họ mà bỏ qua việc tham khảo thêm từ những nhà đầu tư khác.

Xem thêm: Hiện Tượng Biến Đổi Khí Hậu Còn Gọi Là Gì, Biến Đổi Khí Hậu

Tự tin thái quá cũng làm tăng sự không đồng nhất trong niềm tin của NĐT. NĐT quá tự tin luôn quan niệm hành động của họ ít rủi ro hơn các NĐT khác cảm nhận. Nhiều khi những NĐT quá tự tin hiểu sai giá trị thông tin mà họ nhận được, không những tính xác thực mà còn sai cả ý nghĩa của thông tin. Tính tự tin thái quá mà một người có càng lớn thì rủi ro càng cao, danh mục đầu tư rất ít đa dạng hóa và chỉ tập trung vào những cổ phiếu mà họ tin tưởng.

Lệch lạc do tình huống điển hình

Con người trong sự hình thành phán đoán chủ quan có xu hướng phân loại các sự kiện là điển hình hoặc tiêu biểu, nó được xem như là khuôn mẫu tin cậy. NĐT đánh giá xác suất sự kiện trong tương lai dựa trên mức độ tương đồng với tình huống điển hình nào đó và điều này, khiến họ dự đoán về thị trường chứng khoán theo một khuôn mẫu mà quên đi rằng khả năng để thị trường phát tín hiệu giống nhau là rất hiếm. Ví dụ: Khi giá cổ phiếu tăng liên tục trong một thời gian dài như đã từng xảy ra ở Mỹ và Tây Âu từ năm 1982 đến 2000, hay Trung Quốc trong 10 năm trở lại đây, có nhiều NĐT quy kết lợi nhuận cao hiện tại có được từ cổ phiếu là việc “bình thường” khi nhìn vào các tình huống điển hình đó.

Tính bảo thủ

Khi điều kiện kinh tế thay đổi mọi người có xu hướng chậm phản ứng với thay đổi đó, họ gắn nhận định của mình với tình hình chung trong một thời kỳ dài hạn trước đó. Nghĩa là khi có tin nền kinh tế suy giảm, họ cho rằng, đây chỉ là tạm thời, dài hạn nền kinh tế vẫn đi lên, mà không nhận thấy có thể tin đó là tín hiệu cho một chu kỳ suy thoái dài hạn đã bắt đầu. Sau một khoảng thời gian nhận thấy tình hình vẫn chưa cải thiện thì mọi người đổ xô đi bán cổ phiếu. Kết quả, thị trường lại biến động bất thường.

Phụ thuộc vào kinh nghiệm

Những kinh nghiệm, quy tắc học được thường giúp người ta đưa ra quyết định nhanh và dễ dàng hơn rất nhiều. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, nếu phụ thuộc quá nhiều vào các quy tắc đôi khi lại dẫn đến sai lầm, khi mà các điều kiện bên ngoài thường xuyên thay đổi. Đặc biệt, NĐT thường đề cao hiệu quả của những quy tắc đơn giản, gần gũi và dễ nhớ, kiểu hiệu ứng. Nguyên lý này giúp giải thích tại sao thị trường đôi khi có những hành xử một cách vô thức.

Xem thêm: cổ phiếu mới lên sàn 2020

Tâm lý “bầy đàn”

Tâm lý “bầy đàn” luôn tồn tại trong quá trình ra quyết định của NĐT, bất kể việc họ có kinh nghiệm hay không. Ảnh hưởng của loại tâm lý này càng rõ nét khi NĐT đứng trước áp lực phải đưa ra quyết định nhanh chóng, mà không có đủ thông tin cần thiết. Khi cá nhân đối đầu với ý kiến của nhóm, họ có xu hướng thay đổi những câu trả lời của mình, vì họ nghĩ rằng, tất cả những người khác có thể không sai.

Những vấn đề đặt ra

Trả lời

Back to top button