Lớp Học Có Phải Thị Trường Không ? ​ Nhắm Mắt Nhìn Sao

*

Giáo dục cũng là một loại hàng hóa?

Trong nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) sự vận động của các quy luật giá trị, cung cầu, cạnh tranh làm bộc lộ thực chất các nhu cầu xã hội (cần gì; ở đâu; cần bao nhiêu; lúc nào?) và những yêu cầu về chất lượng để đáp ứng được các nhu cầu đó. Chính nền kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường đã làm xuất hiện một thị trường lao động mới đặt ra những yêu cầu mới cho giáo dục – đào tạo (GD-ĐT).

Đang xem: Lớp học có phải thị trường không

Hiện tượng người lao động tự bỏ tiền đi học vào các ngày thứ bảy, chủ nhật, buổi tối ngày càng nhiều. Vì họ muốn chuyển nghề, nâng cao tay nghề, hoặc đã ý thức được những lợi ích giá trị của việc học đối với sự phát triển cá nhân. Cha mẹ học sinh đã bắt đầu tính toán, cân nhắc việc cho con học trường công hay trường ngoài công lập. Như vậy, các quy luật của KTTT đã đi dần vào giáo dục (GD), đi vào giáo viên (GV), học sinh (HS) và cha mẹ của học sinh. Cho nên, trong thời gian qua vấn đề “giáo dục có phải là một loại hàng hóa hay không” đã trở thành một vấn đề mà người ta bàn tới rất nhiều.

Vậy thì ta có nên tán thành ý kiến cho rằng giáo dục là một loại hàng hóa hay không?

Bản thân, tôi tán thành ý kiến “giáo dục cũng là một loại hàng hóa”.

Bởi lẽ:

1. Đặc trưng của giáo dục trong nền kinh tế thị trường

Trong nền KTTT định hướng XHCN đã đặt ra những yêu cầu mới cho GD – ĐT. Một mặt củng cố phát triển hệ thống GD công lập làm nồng cốt, mặt khác phát triển các loại hình trường, loại hình đào tạo nhằm thu nhận hầu hết những ai có nhu cầu và điều kiện được vào học. HS có nhiều cơ hội để xin vào học các trường, các nghề phù hợp với khả năng và điều kiện của mình, được học thêm các môn ngoài chương trình theo yêu cầu của phụ huynh học sinh (PHHS) nhằm có được năng lực thích ứng với yêu cầu mới trong cơ chế thị trường.

Xã hội càng phát triển, nhu cầu học tập càng tăng lên làm cho các trường công lập trở nên quá tải, một số cá nhân hoặc nhóm người đầu tư mở các cơ sở giáo dục ngoài công lập và đã xuất hiện sự cạnh tranh giữa các trường công với trường ngoài công lập với nhau.

Cung và cầu là hai yếu tố quyết định giá cả trong thị trường, vận động theo quy luật ngược chiều. Khi cầu lớn hơn cung giá cả tăng, khi cung lớn hơn cầu thì giả cả giảm.

Nếu mức đóng góp ngang nhau, trường nào dạy chất lượng cao hơn, HS sẽ tập trung xin vào học ở đó. Nghĩa là các quy luật của KTTT đã dần đi vào GD và trong GD có thể coi PHHS, HS là khách hàng của nhà trường.

KTTT là kinh tế mở, nguồn lực phong phú, các loại hình, chủng loại sản phẩm đa dạng, khách hàng được quyền tự do lựa chọn, không có giới hạn về vùng miền hay quốc gia. Trong nền kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường, cá nhân hoặc cơ sở nào nắm được quy luật hoạt động theo các quy luật của nó sẽ tồn tại phát triển. Ngược lại, nếu không tuân theo sẽ bị thất bại. Các quy luật của KTTT đó đã ngày càng đi sâu vào lĩnh vực giáo dục và các nhà trường ngày càng thích nghi và hoạt động có hiệu quả hơn, đặc biệt là các trường ngoài công lập.

Thực ra mà nói đặc trưng hàng hóa của GD chính là thị trường chất xám mà chất xám là tri thức nằm trong con người. Đó là thị trường con người, thị trường về nhân lực, mà thị trường GD phải cung ứng kịp thời, đầy đủ mọi yêu cầu đòi hỏi về khoa học, kỹ thuật, công nghệ và tay nghề cho các lĩnh vực kinh tế – xã hội,…

Ta xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, chúng ta chấp nhận nền KTTT thì chúng ta phải chấp nhận thị trường GD chứ. Chúng ta hội nhập thì chúng ta phải chấp nhập hội nhập GD thế giới (cho phép người nước ngoài vào đầu tư cho GD). Chúng ta chấp nhận các thành phần kinh tế thì GD cũng có nhiều thành phần kinh tế xã hội tham gia vào thị trường GD,… Có thể nói rằng thị trường GD là kết quả tất yếu của sự phát triển nền kinh tế – xã hội.

Vậy thì tại sao chúng ta không thừa nhận“Giáo dục cũng là một loại hàng hóa”?!

2. “Giáo dục cũng là một loại hàng hóa”

Kinh tế Việt Nam hiện nay là một bộ phận của nền kinh tế thế giới đang được toàn cầu hóa. Vấn đề là trong nền kinh tế hàng hóa toàn cầu này, ngành GD có làm ra hàng hóa hay không? Nếu bán hàng hóa GD thì bán cái gì? Và ở Việt Nam dịch vụ GD có mua bán được không?

Ta có thể phân “hàng hóa giáo dục” làm hai loại:

– Thứ nhất, “hàng hóa” thể hiện dưới dạng sách, chương trình đào tạo, giáo trình, các thiết bị giáo dục, các phần mềm, các kinh nghiệm quản lý được đem ra trao đổi (kể cả mua bán) trên thị trường (đương nhiên chúng đã được kết tinh từ chất xám).

– Thứ hai, “hàng hóa” thể hiện dưới dạng sức lao động của người đứng lớp và người quản lý giáo dục (QLGD). Sức lao động của người dạy học và người QLGD (kỹ năng và tài nghệ của họ) có tác dụng chuyển kiến thức từ bên ngoài vào bên trong của người mua dịch vụ GD. Không có tác động của sức lao động này của người dạy học và của người QLGD thì người học khó mà làm chủ được kiến thức, rất khó tiến bộ. Điều này chẳng ai cảm thấy mình bị xúc phạm khi mình đang sống bằng sức lao động của chính mình. Tuy nhiên, do chữ “sĩ” và quan niệm truyền thống nên một số người nhất là trong ngành GD không chịu thuật ngữ bán sức lao động như bán “hàng hóa” khác.

Vậy thì “hàng hóa” trong giáo dục chịu sự chi phối của cái gì?

Khi thị trường đã toàn cầu hóa thì cũng giống như mọi hàng hóa khác trong nền KTTT, dịch vụ GD cũng chịu sự chi phối của các quy luật của thị trường như quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh và quy luật cung cầu,… Thí dụ, như khi môn Toán, Lý, Hóa, Tiếng Anh là những môn được các khoa, các ngành, các trường Đại học được chọn làm môn thi đầu vào nhiều nhất thì “tự nhiên” sách các môn này bán chạy hơn; thầy dạy các môn này được trọng vọng hơn v.v..

Tuy nhiên, đã nói đến “hàng hóa” thì sẽ có “hàng thật”, “hàng giả”, “hàng nhái”, v.v.. Vậy trong GD có hàng giả không? Và bán hàng giả trong GD là gì? Đó là ra vẻ dạy học nhưng dạy không hết “chữ” tại lớp, để dành “chữ” (“hàng thật”) bán tại nhà! Hay là một số người mang nhãn, mác là tiến sĩ này, giáo sư nọ nhưng bài giảng chẳng có nội dung gì xứng đáng với tiếng tăm, trình độ! (mặc dù là thiểu số nhưng “con sâu làm sầu nồi canh”),… Chính nạn “hàng giả” này trong GD khiến dư luận xã hội lên án gay gắt, khiến ta phải e dè, khiến ta phải đi tranh cãi, biện luận về tính đặc biệt của “dịch vụ giáo dục”, về GD trong nền KTTT.

Dù trên thị trường đang tồn tại vô vàn hàng giả, hàng dỏm, nhưng không ai lại đi phủ nhận tính thị trường trong nền kinh tế, vậy hà tất phải chối bỏ hay né tránh hay xem đó là sự xúc phạm nghề nghiệp cao quý. Sao không nghĩ rằng: mua bán chân chính, trung thực, đúng luật thì điều này tốt lắm chứ. Có gì vì ba cái hàng giả mà phủ nhận bản chất tốt đẹp của các “dịch vụ giáo dục” trong nền KTTT?! Có người lại ngại rằng nếu công nhận “hàng hóa giáo dục” thì người nghèo làm sao đủ tiền mua hàng hóa có chất lượng của GD, điều này sẽ dẫn tới nới rộng khoảng cách về hưởng thụ GD giữa các tầng lớp dân cư, v.v.. Nhưng đây là bài toán về quản lý xã hội. Một Nhà nước đã dám chấp nhận nền KTTT thì phải lo cho dân nghèo bằng những chính sách đặc biệt khác như cho SV vay ưu đãi, trợ giá, bảo hiểm y tế, giảm – miễn học phí và các chính sách “xóa đói giảm nghèo”, v.v…

Trong ngành GD cũng vậy Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo đóng vai trò điều tiết thay vì cố tách ngành GD ra khỏi thị trường để tránh cho nó không bị thương mại hóa. Giáo dục cũng là một loại hàng hóa, bởi vì sự vận động của các quy luật (giá trị, cung cầu, cạnh tranh,…) trong nền KTTT, chúng ta không thể dùng ý chí chủ quan mà cản trở nó, mà chúng ta chỉ có thể điều tiết nó thông qua các chính sách xã hội bởi Nhà nước mà thôi.

3. Những ưu điểm khi xem “Giáo dục cũng là một loại hàng hóa”

3.1. Thu hút được các nguồn lực (tài lực và trí lực) của xã hội vào việc nâng cao chất lượng GD, cái mà hiện nay Nhà nước không thể bao cấp. Hiện nay, hệ thống các trường, trung tâm đào tạo “tư thục” đã tạo uy tín và được xã hội công nhận.

3.2. Tạo ra các phân lớp khác nhau trong hệ thống GD quốc gia cho phép đáp ứng các nhóm nhu cầu chính đáng khác nhau của các bộ phận dân chúng (học để nâng cao kiến thức, học để đi làm, học để sáng tạo,…), cũng như nhu cầu về nhân lực của các ngành nghề khác nhau. Đây là tiền đề quan trọng để chống chủ nghĩa bình quân, cào bằng trong GD. Đa dạng hóa các dịch vụ sản phẩm GD là một hình thức tăng phúc lợi xã hội cho dân chúng vì họ có nhiều lựa chọn hơn và được tự mình quyết định chọn dịch vụ cho phù hợp. Rõ ràng ta không thể phủ nhận “giáo dục cũng là một loại hàng hóa”. Chẳng có lý gì chúng ta không tạo điều kiện cho người dân được tiếp cận với những dịch vụ chất lượng cao trên chính đất nước này.

3.3. Dịch vụ GD được đánh giá, định giá theo chất lượng do thị trường và khách hàng quyết định. Đây là cơ sở để các đơn vị đào tạo cạnh tranh và tồn tại trên thị trường. Cơ chế thị trường và khách hàng cũng là nền tảng quan trọng để thúc đẩy các đơn vị đào tạo kết hợp chặt chẽ với các khách hàng của mình là cộng đồng các doanh nghiệp, từ đó nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học.

3.4. Tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các cơ sở đào tạo, từ đó thúc đẩy nhu cầu không ngừng nâng cao chất lượng, tự hoàn thiện của từng đơn vị đào tạo – cái hiện nay đang rất thiếu vắng ở khối các trường đại học công lập.

3.5. Tạo quyền tự chủ, năng động trong các quyết định về chất lượng cho từng trường đại học – cơ chế nâng cao chất lượng. Chẳng hạn, quyết định tăng học phí muốn được chấp nhận thì phải thuyết phục được học viên, xã hội và chứng minh tính vượt trội về chất lượng tại cơ sở đào tạo của mình.

Xem thêm: Hệ Số Dar Trong Chứng Khoán Là Gì ? Công Ty Cổ Phần Chứng Khoán Tân Việt (Tvsi)

Tuy nhiên, ta cũng phải thấy rằng: nền KTTT dù là một mô hình kinh tế được thực tiễn công nhận là hiệu quả nhất tại trình độ phát triển hiện nay của xã hội loài người nhưng KTTT vẫn có những mặt trái của nó nên khiến nhiều người lo ngại. Có người cho rằng nếu xem“Giáo dục là một loại hàng hóa” là biến GD thành món hàng sinh lợi phục vụ cho quyền lợi bất chính của một cá nhân hoặc một nhóm người.

Hay về vấn đề lợi nhuận trong GD, người ta lo lắng các nhà “kinh doanh giáo dục” tăng tiền học phí nhưng không tăng chất lượng, hay người học không đủ khả năng đánh giá chất lượng GD nên nhà cung cấp sẽ dễ dàng lường gạt. Có những hiện tượng này nhưng cần nhìn nhận là những biến tướng ấy xuất hiện do thị trường chưa được phát triển đồng bộ và đầy đủ. Khi thị trường có nhiều nhà cung cấp và các nhà cung cấp này được các trọng tài (Chính phủ, Pháp luật, các tổ chức đánh giá, xếp hạng, phân loại) độc lập đánh giá một cách khách quan và các thông tin đánh giá được thường xuyên cập nhật và công bố cho xã hội, khi đó tính cơ hội chủ nghĩa được giảm thiểu. Không nhà cung cấp dịch vụ nào dám đánh đổi uy tín xã hội (thương hiệu) của mình để thực hiện các hành vi lừa gạt hay những kẻ lường gạt sẽ bị một thị trường lành mạnh loại trừ.

Nói chung, trong quan điểm kinh doanh hiện đại, các doanh nghiệp đều hiểu rõ rằng để tạo ra được lợi nhuận doanh nghiệp cần không ngừng cải tiến nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, làm tốt hơn đối thủ cạnh tranh (cạnh tranh lành mạnh) và từ đó làm khách hàng hài lòng. Đó chính là các tiền đề cơ bản của một nền KTTT. Vậy bản chất của lợi nhuận có được từ lao động chân chính hay cao hơn là từ lao động tri thức chân chính phải đáng ca ngợi chứ không có gì phải lên án hay cố tình tránh né, trong khi “nó” chính là “nó”.

Tóm lại, “Giáo dục cũng là một loại hàng hóa” không có gì xấu, thậm chí nó mang lại nhiều lợi ích cho xã hội và Nhà nước có thể nhẹ gánh để tập trung nguồn lực vào đào tạo chất lượng cao và lo các giải pháp công bằng xã hội (chính sách xã hội cho các vùng kém phát triển, cho sinh viên nghèo, v.v …).

Để vận hành đúng quỹ đạo và có hiệu quả, khi chúng ta chấp nhận “Giáo dục cũng là một loại hàng hóa” chúng ta cần:

– Nhìn nhận chính xác về quan điểm thị trường và các khái niệm như tư nhân, lợi nhuận, cạnh tranh, hàng hóa. Cần tạo sự bình đẳng cho các thành phần kinh tế tham gia đầu tư GD từ trong nhận thức xã hội.

– Xây dựng hành lang pháp lý bình đẳng và cho phép mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư cho sự nghiệp GD.

– Xây dựng và tạo điều kiện cho các định chế xã hội, các tổ chức độc lập chuyên thu thập thông tin, đánh giá phân loại, xếp hạng các đơn vị đào tạo phát triển trên thị trường. Đây là điềm mấu chốt để thị trường vận hành hiệu quả và giảm thiểu tính cơ hội chủ nghĩa.

– Xây dựng các chính sách xã hội cho sinh viên nghèo và chính sách khuyến khích đầu tư GD ở các vùng miền xa, có trình độ phát triển thấp và còn gặp nhiều khó khăn.

– Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo đóng vai trò điều tiết các nguồn lực đầu tư của xã hội và đề ra các chiến lược phát triển chung cho ngành GD; đầu tư trọng điểm vào một số các trường đại học công lập làm cơ sở đào tạo nhân tài chất lượng cao, cũng như đầu tư vào những vùng, miền còn kém phát triển.

Nghị quyếtsố: 29-NQ/TW ngày 4 tháng 11 năm 2013 (Hội nghị Trung ương 8 khóa XI) có nêu: Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục-đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học. Đây là cơ sở, là điều kiện, là tiền đề, là thời cơ tốt nhất để ta nhìn nhận GD có phải là một loại hàng hóa hay không, và sự tồn tại của nó là một tất yếu khách quan hay không, và có phải nó càng ngày càng lộ rõ và đang phát huy tính hiệu quả, và đã mang nhiều lợi ích cho xã hội, cho đất nước hay không? để từ đó mà đề ra những chủ trương, chính sách cũng như vận hành cho đúng quỹ đạo và có hiệu quả.

Lê Bình Nguyên

Liên hiệp các Hội KH&KT Sóc Trăng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.Chuyên đề khoa học: Cách mạng thông tin và cách mạng giáo dục (Viện Chiến lược và chương trình giáo dục – Bộ Giáo dục và Đào tạo – Hà Nội – 2005).

2.Phạm Tất Dong (2005), Giáo dục trước vấn đề hội nhập quốc tế và khu vực – Báo cáo tại Hội nghị BCHTW – Hội khoa học Tâm lý – Giáo dục (Cần Thơ tháng 1/2005).

3.Ngô Văn Điểm, Toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam (NXB Chính trị quốc gia – Hà Nội – 2004).

4.Vương Liêm, Kinh tế tri thức với công cuộc phát triển ở Việt Nam (NXB Thanh niên – 2004).

5.Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI (NXB Chính trị quốc gia – Hà Nội).

Xem thêm: Định Giá Cổ Phiếu Vpb – Vpb: Ngân Hàng Tmcp Việt Nam Thịnh Vượng

6. Nghị quyếtsố: 29-NQ/TW ngày 4 tháng 11 năm 2013 (Hội nghị Trung ương 8 khóa XI).

Trả lời

Back to top button