Vay tiền

Lấy Cmnd Người Khác Vay Tiền 30 Triệu Không Hay Biết, Vay Tiền Không Trả Có Phải Là Lừa Đảo

Dùng chứng minh thư người khác vay tiền có phạm tội lừa đảo không? Tự ý lấy chứng minh nhân dân của bạn đi vay tiền có phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không?

Tóm tắt câu hỏi:

Bạn em có đánh rơi chứng minh nhân dân và giấy phép lái xe và khi có người nhặt lại nhờ em trả giùm. Em đã không hỏi ý kiến bạn em mà đem chứng minh nhân dân cho một người bạn khác mượn để mua hàng của PPF thời hạn vay 6 tháng. Bạn em đóng tiền được 1 kì, đến tháng thứ 2 thì bạn em kẹt tiền và đóng trễ nên PPF đã gởi giấy báo phạt về bạn chủ chứng minh nhân dân. Và bạn đã gởi đơn khiếu nại lên công ty PPF nhưng hiện tại số tiền người bạn mua điện thoại đã được trả hết. Vậy có cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không? Và em tự ý đem chứng minh nhân dân của người khác đem tùy tiện cho mượn. Vậy xin hỏi em sẽ bị xử lý ra sao?

Luật sư tư vấn:

Khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định như sau về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;

…”

Theo quy định trên, một người bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nếu có đủ các dấu hiệu sau:

– Dùng thủ đoạn gian dối

– Chiếm đoạt tài sản của người khác

Theo bạn trình bày, bạn của bạn có đánh rơi chứng minh nhân dân, khi có người nhặt lại nhờ em trả dùm ban đã không hỏi ý kiến của chủ chứng minh nhân dân mà đem chứng minh nhân dân cho một người bạn khác mượn để mua hàng của PPF thời hạn vay 6 tháng. Nếu trong hợp đồng mua hàng với PPF, người mua hàng ký tên là chủ sở hữu chứng minh nhân dân thì đây được xem là hành vi lừa đảo. Tuy nhiên, số tiền mua điện thoại của PPF người mua đã trả hết nên người mua không có dấu hiệu chiếm đoạt tài sản. Do đó, người lấy chứng minh thư của bạn của bạn để mua điện thoại trả góp của PPF và đã trả hết tiền không phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

READ  Dùng Tiền Gửi Ngân Hàng Trả Nợ Vay Ngắn Hạn Tk 311, Kế Toán Vay Dài Hạn Và Kế Toán Vay Ngắn Hạn

Đang xem: Lấy cmnd người khác vay tiền

Luật sư tư vấn pháp luật hành chính qua tổng đài:1900.6568

Tuy không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng hành vi sử dụng chứng minh thư mà không xin phép chủ sở hữu bị xử phạt hành chính theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Nghị định 167/2013/NĐ-CP như sau:

2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Sử dụng chứng minh nhân dân của người khác để thực hiện hành vi trái quy định của pháp luật;

b) Tẩy xóa, sửa chữa chứng minh nhân dân;

c) Thuê, mượn hoặc cho người khác thuê, mượn chứng minh nhân dân để thực hiện hành vi trái quy định của pháp luật.

Như vậy, hành vi của bạn có thể bị xử phạt hành chính với mức phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000

1. Có bị kiện lừa đảo khi không trả lãi suất ngân hàng

Tóm tắt câu hỏi:

Tôi có câu hỏi xin hỏi quý công ty tôi có thế chấp lô đất để vay tiền ngân hàng, nhưng hôm nay tôi không có đủ khả năng trả lãi suất ngân hàng nữa ,vậy tôi có bị kiện là lừa đảo hay không , vì giá trị tiền không cao.

Luật sư tư vấn:

Theo quy định của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017:

“Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;

…”

Theo quy định của Bộ luật dân sự 2015:

Điều 323. Quyền của bên nhận thế chấp tài sản

1. Xem xét, kiểm tra trực tiếp tài sản thế chấp, nhưng không được cản trở hoặc gây khó khăn cho việc hình thành, sử dụng, khai thác tài sản thế chấp.

2. Yêu cầu bên thế chấp phải cung cấp thông tin về thực trạng tài sản thế chấp.

3. Yêu cầu bên thế chấp áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo toàn tài sản, giá trị tài sản trong trường hợp có nguy cơ làm mất giá trị hoặc giảm sút giá trị của tài sản do việc khai thác, sử dụng.

4. Thực hiện việc đăng ký thế chấp theo quy định của pháp luật.

5. Yêu cầu bên thế chấp hoặc người thứ ba giữ tài sản thế chấp giao tài sản đó cho mình để xử lý khi bên thế chấp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.

Xem thêm: Dịch Vụ Vay Tiền Chỉ Cần Cmnd Tại Bắc Ninh 】, Vay Tiền Bắc Ninh Không Giữ Giấy Tờ 2021

6. Giữ giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp trong trường hợp các bên có thỏa thuận, trừ trường hợp luật có quy định khác.

7. Xử lý tài sản thế chấp khi thuộc trường hợp quy định tại Điều 299 của Bộ luật này.”

Như vậy, trong trường hợp của bạn không có đủ khả năng trả lãi suất ngân hàng nữa thì tài sản thế chấp của bạn sẽ bị yêu cầu xử lý theo quy định Bộ luật dân sự 2015. Để khởi kiện vấn đề bạn có lừa đảo hay không cần chứng minh hành vi thực hiện ban đầu.

2. Quá hạn thanh toán trả góp có quy vào tội lừa đảo

Tóm tắt câu hỏi:

Chào anh chị: Em có một số việc muốn hỏi là tháng 6 năm 2015 em có mua 1 sản phẩm trả góp tại cửa hàng thế giới di động, giá sản phẩm này là 8 triệu VNĐ. Em có trả trước với số tiền là 1 triệu 700 ngàn đồng. Theo như hợp đồng là tới mùng 10 đến 15 hàng tháng em phải trả cho ngân hàng với số tiền 1 triệu 500 ngàn. Tháng sau em có trả góp được 1 tháng. Sau khi trả góp em có 1 chút việc nên đi sang Trung Quốc giờ em mới về được. Thời gian đó em không trả góp cho ngân hàng tiếp được.

Vậy giờ em muốn trả góp tiếp cho bên ngân hàng thì em có bị quy vào tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không? Mong anh chị tư vấn giùm em vì em không muốn mang tội danh và phạm pháp?

Luật sư tư vấn:

Theo như thông tin bạn cung cấp, đối chiếu với hành vi của bạn thì không có yếu tố nào có thể cấu thành tội lừ đảo chiếm đoạt tài sản.

Theo quy định tại Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 thì:

Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

…”

Tuy nhiên, trong trường hợp này của bạn, cần phải xác định xem hành vi của bạn có đủ để cấu thành tội danh lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hay không?

Thứ nhất, Người phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản phải có hành vi chiếm đoạt tài sản bằng cách thức như được quy định tại Khoản 1 Điều 175 như trên với mục đích trốn tránh nghĩa vụ trả nợ, trong khi đó bạn không hề có ý định hay thủ đoạn nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả góp của mình với ngân hàng.

Thứ hai, việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ của bạn đối với ngân hàng, bạn vì lý do khách quan mà không thể trả được ngân hàng trong vòng một tháng nhưng bạn vẫn có ý chí trả tiền tiếp, có nghĩa là đang thực hiện nghĩa vụ đối với ngân hàng thì vẫn chưa đủ căn cứ để cấu thành tội phạm. Do vậy trong trường hợp của bạn sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự nhưng sẽ phải chịu trách nhiệm dân sự về hành vi trả không đúng hạn của mình.

Theo quy định tại Điều 440 Bộ luật dân sự 2015:

“1. Bên mua có nghĩa vụ thanh toán tiền theo thời hạn, địa điểm và mức tiền được quy định trong hợp đồng.

Xem thêm: Researchgate

2. Trường hợp các bên chỉ có thỏa thuận về thời hạn giao tài sản thì thời hạn thanh toán tiền cũng được xác định tương ứng với thời hạn giao tài sản. Nếu các bên không có thỏa thuận về thời hạn giao tài sản và thời hạn thanh toán tiền thì bên mua phải thanh toán tiền tại thời điểm nhận tài sản.”

Vì vậy để giải quyết vấn đề, bạn nên trình bày tình hình và lý do của mình và thương lượng với ngân hàng về việc bạn sẽ tiếp tục trả góp dần dần kèm theo tiền lãi của số tiền nợ quá hạn, cũng như bồi thường thiệt hại xảy ra (nếu có) trong thời gian sớm nhất.

Trả lời

Back to top button