Làm Sao Để Phát Triển Thị Trường Sơ Cấp Và Thị Trường Thứ Cấp Là Gì?

Việt nam gia nhập WTO sẽ mang lại nhiều tác động trực tiếp tới hoạt động của các công ty cung cấp dịch vụ chứng khoán. Các nhà cung cấp dịch vụ chứng khoán sẽ là những đối tượng chịu tác động trực tiếp của các cam kết cụ thể của Việt nam trong lĩnh vực này, đây là những thách thức

Nh÷ng gi¶i ph¸p c¬b¶n cho sù ph¸t triÓn lµnh m¹nh

Ths Ngô thị Việt Hà

1- Thùc tr¹ng thị tr­ường chøng kho¸n ViÖt Nam

Thị trường chứng khoán Việt nam đãđi vào hoạt động từ năm 2000, sau 8 nămhoạt động đã trở thành một kênh huy động vốn dài hạn cho đầu tư phát triển.Theo đánh giá ban đầu thị trường chứng khoán Việt Nam bước đầu hoạt động tươngđối an toàn, không gây ra những biến động lớn hoặc tác động tiêu cực đến hoạtđộng kinh tế xã hội của đất nước

Hiện nay trên thị trường chứngkhoán Việt nam, bên cạnh thị trường có tổ chức hoạt động của thị trường chứngkhoán tự do còn ở phạm vi khá rộng với khoảng trên 800 loại cổ phiếu của côngty đang được giao dịch với giá trị ước tính gấp hơn 2 lần giá trị của thị trường có tổ chức. Những đặc điểmnổi bật của thị trường tự do là : thiếu tính công khai, minh bạch, không được tổchức quản lý và giám sát , nên khả năng xảy ra rủi ro rất lớn như mất khả năngthanh toán, chứng khoán giả , lừa đảo…. Những mặt trái này đã gây sự bất ổn chocho thị trường chính thức và cả hệ thống tài chính.

Đang xem: Làm sao để phát triển thị trường sơ cấp

Thị trường chứng khoán Việt nam chođến này vẫn chưa là “ hàn thử biểu” của nền kinh tế và chưa được coi là kênhhuy động vốn của Doanh nghiệp. Chức năng cung ứng vốn dài hạn cho nền kinh tếcủa thị trường chứng khoán Việt nam vẫn chưa thể hiện rõ. Vốn dài hạn vẫn chủyếu được thực hiện thông qua thị trường tín dụng. Đó là điểm bất cập không phùhợp với sự phát triển của thị trường tài chính. Trong thời gian tới cần thúcđẩy hoạt động của thị trường chứng khoán nhằm tách hẳn chức tăng cung ứng vốndài hạn ra khỏi hoạt động của tín dụng ngân hàng

Nhìn lại thị trường chứng khoánViệt nam sau gần 8 năm hoạt động, còn nhiều tồn tại , đó là :

a – Về quy mô của thị trường chứng khoán Việt nam so với các nước trongkhu vực vẫn còn nhỏ, tuy vốn hóa thị trường tăng nhanh cãthêi gian đạt 43% GDP. Trên thị trường chứngkhoán chỉ có một số công ty lớn ở lĩnhvực kinh doanh tương đối ổn định, có mức tăng trưởng đều qua các năm, còn lạiphần lớn các công ty niêm yết vẫn chưa phải là công ty lớn nhất trong nền kinhtế và chưa đại diện tiêu biểu cho sự đóng góp tỷ trọng lớn vào GDP của Việt Nam.Giá chứng khoán ( chỉ số giá cổ phiếu VN- index) tăng giảm thất thường, thị trường chứng khoán trong thời gian qua vẫnchưa đảm bảo sự bền vững lành mạnh.

Từ năm 2006 đến nay, TTCK Việt Namđã phát triển lên một cấp độ mới vừa trải qua nhiều thăng trầm đột biến. Thịtrường có lúc hừng hực sôi động, nở bung như “bong bóng”sau đó lại xì hơi tụtdốc. Tuy trong thời gian rất ngắn TTCK Việt Nam có những bước tiến vượtbậc và có không ít thành công, song cũng chư bao giờ như lúc này, tâm lý bất ổnngự trị trong các nhà đầu tư.

b- Về hoạt động của các tổ chức trung gian và hỗ trợ thị trường còn nhiều bất cập về tài chính.Mặc dầu các công ty chứng khoán đã phát hành thêm cổ phiếu, trái phiếu để tăngquy mô vốn hoạt động hoặc vốn điều lệ từ các chủ sở hữu vốn ( đối với các côngty chứng khoán trực thuộc ngân hàng thương mại ), nhưng nhìn chung vốn điều lệvẫn còn thấp, điều đó đã ảnh hưởng đến khả năng tham gia thị trường của cáccông ty chỉ đóng vai trò đầu tư dẫn dắtthị trường hoặc rủi ro do mức vốn khả dụng thấp

Về cơ sở vật chất, kỹ thuật và hạ tầng công nghệ thông tincòn hạn chế. Đội ngũ về nhân sự hành nghề có chuyên môn có giấy phép hành nghề,đặc biệt về chất lượng về nhân sự lãnh đạo công ty còn thiếu và yếu về nghiệpvụ chuyên môn kinh doanh chứng khoán cũng như tư vấn pháp luật về chuyển đổidoanh nghiệp.

Trên thực tế hiện nay số lượng côngty chứng khoán ở nước ta vượt quá quy mô thị trường, nếu so sánh với các nướctrong khu vực ( Trung quốc 107 công ty, Malaysia 37 công ty, Thái Lan 41 côngty, Singapor 27 công ty và Hàn quốc trên 50 công ty ).

c- Tuy số lượng tài khoản đầu tư tăng nhanh, nhưng chủ yếu là tài khoản cá nhân, mua bán cổ phiếu ngắnhạn và bị tác động chi phối bởi các nhà đầu tư lởn trên thị trường. Những nhà đầu tư này lại thiếu kỹnăng phân tích đầu tư, phân tích thị trường, do vậy ảnh hưởng tới sự ổn địnhcủa thị trường . Những nhà đầu tư chuyên nghiệp chiếm tỷ trọng còn khiêm tốn,một số nhà đầu tư lớn nước ngoài mở tài khoản nhưng chưa tham gia vào đầu tư.Các quỹ đầu tư nước ngoài tham gia thị trường trong nước thông qua các tàikhoản ủy thác cá nhân và đầu tư tập trung vào cổ phiếu các doanh nhgiệp cổ phầnhóa, chưa tham gia đầu tư nhiều trên SGDCKTP Hồ Chí Minh và TTGDCK Hà nội

d- Như trên đã nêu, thị trường chứng khoán tự do còn khá lớn, có nhiềunhược điểm, gây sự bất ổn định cho thị trường chính thức. Còn các doanh nghiệp sau khi cổphần hóa chưa tích cực đưa cổ phiếu vào đăng ký, lưu ký tập trung để niêm yếtvà giao dịch qua các SGDCKH TP Hồ Chí Minh và TTGDCK Hà nội bởi nhiều lý dokhông chính đáng

Cơ quan quản lý Nhà nước, SGDCK vàTTGDCK, các công ty chứng khoán, công ty niêm yết trong công tác quản lý, điềuhành hoạt động của thị trường chứngkhoán còn thiếu kinh nhgiệm thực tiễn và còn những bất cập. Chứng khoán và Thịtrường chứng khoán là một lĩnh vực mới đối với mỗi người Việt nam, vì Việt namđã có quá trình lâu năm với cơ chế kinh tế kế hoach hóa tập trung. Do vậy côngtác tuyên truyền, phổ cập kiến thức cơbản về lĩnh vực này còn chưa được chú trọng đúng mức, chưa phù hợp và đáp ứngvới yêu cầu phảt triển của thị trường chứng khoán. Nên sự tham gia của các nhàđầu tư vào thị trường này còn chưa đông và việc tham gia của các nhà đầu tư cònmang tính theo kiểu “ phong trào” và “ bầy đàn”

2- Nh÷ng c¬ héi vµth¸ch thøc đối với sù ph¸t triÓn TTCKViÖt nam trong tiÕn tr×nh héi nhËp KTQT

Đối với Việt Nam, đây là ngành dịchvụ mới được hình thành từ năm 2000, nhưng nhiều thành viên WTO, nhất là cácthành viên có hệ thống tài chính phát triển rất quan tâm và đưa ra yêu cầu caovề mức độ mở cửa cửa thị trường cho các nhà cung cấp dịch vụ chứng khoán nướcngoài

Các cam kết của Việt nam với WTOđối với lĩnh vực dịch vụ chứng khoán, đó là :

– Các nhà cung cấp dịch vụ chứng khoán nước ngoài được cungcấp qua biên giới ( mà không cần thành lập pháp nhân ở Việt Nam ) đối với dịch vụcung cấp thông tin tài chính, tư vấn, trung gian và các dịch vụ phụ trợ liênquan đến chứng khoán

– Các tổ chức, cánhân Việt nam được sử dụng dịch vụ chứng khoán ở nước ngoài

– Các nhà cung cấp dịch vụ chứng khoán nước ngoài được phépthành lập văn phòng đại diện và liên doanh đến 49% vốn đầu tư nước ngoài từthời điểm gia nhập. Được phép thành lập công ty cung cấp dịch vụ chứng khoán100% vốn ĐTNN sau 5 năm kể từ khi gia nhập và được phép thành lập chi nhánh củacông ty cung cấp dịch vụ chứng khoán nước ngoài sau 5 năm đối với một số loạihình : quản lý tài sản, thanh toán, tư vấn liên quan đến chứng khoán và cungcấp, trao đổi thông tin tài chính

Theo những cam kết về lĩnh vực dịchvụ chứng khoán của Việt nam với WTO, lộ trình mở cửa hội nhập của thị trườngchứng khoán của Việt Nam sẽ được triển khai theo Luật chứng khoán, Luật đầu tưnước ngoài và những cam kết với WTO, theo những nội dung sau :

– Tỷ lệ tham gia của nhà đầu tư trên TTCK Việt Nam sẽ khônghạn chế , nếu không thuộc lĩnh vực ngành nghề kinh doanh bị cấm hoặc kinh doanhcó điều kiện đối với lĩnh vực kinh doanh có điều kiện, không bao gồm các lĩnhvực đầu tư trong các điều ước quốc tế màViệt nam cam kết mở cửa thị trường nhà đầu tư nước ngoài được mua cổ phần khônghạn chế sau khi trừ đi phần vốn nhà nước nắm giữ dành cho người lao động trong doanh nghiệp

– Cho phép thành lập văn phòng đại diện và liên doanh đến 49% vốn ĐTNN từ thời điểmgia nhập. Sau 5 năm kể từ thời điểm gia nhập cho phép thành lập các công tycung cấp dịch vụ chứng khoán 100% vốn nước ngoài và cho phép các chi nhánh củacác công ty cung cấp dịch vụ chứng khoán nước ngoài hoạt động trong các loạihình dịch vụ quản lý tài sản, quản lý quỹ đầu tư, lưu ký, thanh toán bù trừ,cung cấp và chuyển giao thông tin tài chính, tư vấn và các hoạt động môi giớivà phụ trợ khác liên quan đến chứng khoán. Tuy nhiên, không mở cửa cho chinhánh đối với các loại hình dịch vụ kinh doanh chứng khoán và tham gia pháthành

Các công ty đầu tư nước ngoài sẽđược hưởng chế độ đãi ngộ quốc gia trong lĩnh vực tài chính. Các quy chế vềtiếp cận thị trường nước ngoài sẽ tương tự hoặc cao hơn so với các quy chế nàycủa các nước OECD

– Trong lộ tình cam kết với UBCK các nước ( IOSCO ) đến năm2010 là thời hạn cuối cùng các nước ký kết MMOV, đảm bảo phải tuân thủ chấphành các tiêu chuẩn và điều kiện chung về kế toán, công bố thông tin, quản trịcông ty,..

Hội nhập kinh tế giúp cho việc đẩymạnh các nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào Việt nam, đặc biệt là dòng vốn đầu tưgián tiếp, thông qua thị trường chứng khoán, đáp ứng nhu cầu cho việc huy độngnguồn vốn đầu tư nước ngoài khoảng 30% trong tổng số 140 tỷ USD cho giai đoạnphát triển kinh tế 2006-2010. Hội nhập kinh tế tạo điều kiện và cơ hội cho việctiếp cận nhanh và tốt hơn kinh nghiệm quốc tế về quản lý, công nghệ tiên tiếntrong việc phát triển thị trường chứng khoán của các nước tiên tiến. Việc mởcửa thị trường chứng khoán Việt nam sẽ tạo ra sự cạnh tranh giữa các tổ chứckinh doanh chứng khoán trong và ngoài nước để cung cấp dịch vụ với chất lượng caocho nhà đầu tư. Đồng thời từ đó sẽ trao đổi học tập kinh nghiệm và hợp táctrong việc phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam

Việt Nam gia nhập WTO sẽ mang lạinhiều tác động trực tiếp tới hoạt động của các công ty cung cấp dịch vụ chứngkhoán. Các nhà cung cấp dịch vụ chứng khoán sẽ là những đối tượng chịu tác độngtrực tiếp của các cam kết cụ thể của Việt nam trong lĩnh vực này, đây là nhữngthách thức.

Thị trường chứng khoán Việt Nam mớiở giai đoạn đầu phát triển, trong khi đó ở các nước trên thế giới thị trườngvốn đã phát triển cao và dựa trên những chuẩn mực, quy trình tác nghiệp, trìnhđộ công nghệ cao và hệ thống pháp lý hoàn chỉnh. Mặc dầu Luật chứng khoán mớira đời tuy phù hợp với các cam kết và với thông lệ quốc tế, song còn nhiều vấn đềvề định chế và pháp lý cần tiếp tục hoàn thiện cho phù hợp với thông lệ quốctế, như : luật phá sản, xử lý tranh chấp, mối quan hệ trách nhiệm – quyền hạncủa tổ chức cá nhân tham gia thị trường ( nhà đầu tư, công ty chứng khoán, côngty quản lý quỹ, nhà đầu tư,..) xây dựng tổng thể chính sách phát triển thịtrường chứng khoán, các chính sách để liên kết thị trường tiền tệ, thị trườngchứng khoán, thị trường bất động sản.

Các tổ chức trung gian của Việt Namcòn ở giai đoạn sơ khai và đang ở trình độ thấp so với nhiều nước trên thếgiới, thiếu kinh nghiệm về chuyên môn và yếu về năng lực tài chính. Đây sẽ lànhững thách thức lớn đối với các tổ chức trung gian dưới áp lực cạnh tranh

Những hạn chế và yếu kém về chấtlượng chuyên môn; Về đạo đức nghề nghiệp thể hiện chưa có các chuẩn mực đạo đứcnghề nghiệp của đội ngũ kinh doanh chứng khoán; Về năng lực tài chính thể hiệnmức vốn điều lệ còn thấp so với các nước trong khu vực; Về cơ sở vât chất kỹthuật ứng dụng công nghệ thông tin; về công bố các thông tin, công tác quản trịdoanh nghiệp chưa được đáp ứng đươc yêu cầu về quản lý thị trường đối với cảcác công ty niêm yết lẫn các công ty cung cấp dịch vụ chứng khoán cũng như SởGDCK và TTGDCK

Với sự phát triển của nền kinh tếvà thị trường vốn, quy mô thị trường chứng khoán và nhu cầu về dịch vụ chứngkhoán trong thời gian tới sẽ tăng mạnh. Sự xuất hiện của các quỹ đầu tư và nhà ĐTNN có tác động mạnh tới pháttriển thị trường, tuy nhiên cũng tiềm ẩn nguy cơ cao khi cơ sở hạ tầng chứngkhoán phát triển không tương ứng với thịtrường. Đồng thời, với xu hướng mở rộng áp dụng công nghệ thông tin, thì đây sẽlà thách thức lớn đối với việc giám sát rủi ro, duy trì sự phát triển bền vữngcủa thị trường chứng khoán.

Trong điều kiện hội nhập thì nguycơ thâu tóm, thao túng từ các nhà đầu tư nước ngoài và nguy cơ ảnh hưởng đếncân đối vĩ mô của nền kinh tế là những điều có thể xẩy ra. Ngoài ra còn cácnguy cơ tiềm tàng khác, như : mất chủ quyền do các nước mạnh áp đặt các nguyêntắc hoăc áp đặt các ràng buộc mà các thể chế tài chính quốc tế quy định; Nguycơ biến dạng thị trường; Khả năng lây lan rủi ro; v,v..

Việt nam gia nhập WTO sẽ mang lạinhiều tác động trực tiếp tới hoạt động của các công ty cung cấp dịch vụ chứngkhoán. Các nhà cung cấp dịch vụ chứng khoán sẽ là những đối tượng chịu tác độngtrực tiếp của các cam kết cụ thể của Việt nam trong lĩnh vực này, đây là nhữngthách thức.

Luật Chứng khoán đã được Quốc hộiViệt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 9 thông qua. Luật chứng khoán ra đời đã tạo kênhhuy động vốn trung và dài hạn quan trọng cho nền kinh tế. Luật chứng khoán tạocơ sở cho thị trường chứng khoán phát triển nhanh và ổn định, tạo tâm lý yêntâm cho tổ chức, cá nhân khi tham gia kinh doanh, đầu tư vào thị trường chứngkhoán và đảm bảo lợi ích cho nhà đầu tư; giúp công chúng dễ dàng hiểu biết về chứng khoán, thị trường chứng khoán và cócơ sở pháp lý để công chúng tham gia thị trường khi có điều kiện. Đồng thờigiúp việc phân định rõ vai trò của từng thị trường vốn trung , dài và ngắn hạntrong cơ cấu thị trường tài chính; bảođảm và phát huy quyền tự chủ của doanh nghiệp huy động vốn trên thị trườngchứng khoán, giảm gánh nặng trong việc dùng vốn ngắn hạn cho vay dài hạn của hệthống ngân hàng hiện nay và góp phần tăng cường tính công khai, minh bạch trongcộng đồng và các doanh nghiệp và cả nền kinh tế. Luật chứng khoán đã đáp ứngyêu cầu của các cam kết quốc tế trong quá trình hội nhập, đặc biệt là các camkết về hệ thống pháp luật phục vụ quá trình đàm phán gia nhập WTO

Về giải pháp dài hạn : Phát triển thị trường vốn theohướng hiện đại, hoàn chỉnh về cấu trúc.Phát triển mạnh các kênh cung cấp vốn cả trong và ngoài nước cho thịtrường, mở rộng hệ thống các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư có tổ chức;phát triển đầy đủ các định chế trung gian; đa dạng hóa các dịch vụ cungcấp,..đảm bảo đầy các yếu tố cấu thành một thị trường vốn phát triển trong khuvực; kết hợp chặt chẽ giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa; hài hòagiữa mục tiêu huy động vốn cho tăng trưởng kinh tế, phát triển bền vững thịtrường vốn với ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, đảm bảo an ninh tàichính quốc gia. Tăng cướng quản lý Nhà nước, thực hiện có hiệu quả chức năngthanh tra, kiểm tra giám sát việc tuân thủ pháp luật của các tổ chức, cá nhântham gia hoạt động trên thị trường

Về giải pháp trước mắt : Phát triển quy mô, nâng cao chất lượng và đa dạng hóa cácloại hàng hóa để đáp ứng nhu cầu thị trường; từng bước hoàn chỉnh cấu trúc củathị trường vốn đảm bảo khả năng quản lý, giám sát của Nhà nước; Phát triển cácđịnh chế trung gian và dịch vụ thị trường ; Phát triển hệ thống nhà đầu tưtrong nước và ngoài nước ; Hoàn thiện khung pháp lý, nâng cao hiệu lực, hiệuquả quản lý, giám sát của nhà nước; Chủ động mở cửa hội nhập với khu vực vàquốc tế; Đảm bảo an ninh tài chính quốc gia.

Từ thực trạng hoạt động của thịtrường chứng khoán Việt Nam những năm qua và đặc biệt là sau gần 2 năm Việt Namtrở thành thành viên thứ 150 của WTO, qua diễn biến giao dịch trên TTCK kháphức tạp; Hoạt động của các tổ chức niêm yết; của các tổ chức trung gian; vềhoạt động đầu tư nước ngoài. Trên cơ sở dự báo xu hướng về phát triển kinh tếvà những hoạt động có liên quan đến hoạt động của thị trường chøngkho¸n, đó là :

-Nền kinh tế Việt nam năm 2009 gạp nhiều khóa khăn, song vẫn duy trì tốcđộ tăng trưởng kinh tế, nhưng có nhiều nhân tố suy giảm. Chỉ số giá tiêu dùngcó chiều hướng diễn biến phức tạp. Những vấn đề đó đã ảnh hưởng đến các cân đốivĩ mô, tới hoạt động của các doanh nghiepj, tới đời sống xã hội của mọi đốitượng trong nền kinh tế.

-Do Việt nam cải thiện môi trường đầu tư, vị thế của Việt nam trên trườngquốc tế ngày càng được nâng cao và khẳng định. Do vậy, luồng vồn đầu tư cả trựctiếp và gián tiếp của nước ngoài cũng sẽ được tăng nhanh.

Xem thêm: Cách Bật Chức Năng Kiếm Tiền Youtube Trên Điện Thoại &Ndash; Metub Support

– Tiến trình cổ phần hóa các doanhnghiêp lớn, thông qua các đợt đấu giá cổ phần lần đầu trên thị trường chứngkhoán ( IPO) sẽ tác động mạnh tới nguồn cung hàng hóa chứng khoán , tạo ra sựmất cân đối cung cầu, làm cho giá chứng khoán khó phục hồi. Số lương các côngty phát hành cổ phiếu và đưa vào niêm yết trong năm 2008 khoảng trªn 80 công ty, tạo nên nguồn hàng lớncho thị trường chứng khoán

Từ những nội dung phân tích trên,chúng tôi xin đưa ra những giải pháp nhằm phát triển TTCK Viêt nam trong nhữngnăm tới một cách bền vững :

Về giải pháp kinh tế vĩ mô :

– Kiểm soát lạm phát ( CPI ) , đây là một trong những điềukiện và tiền đề rất quan trong để thịtrường chứng khoán Việt nam phát triển lành mạnh, hiệu quả và ổn định.

– Thị trường chứngkhoán là một kênh huy động vốn quan trọng, cần được quan tâm phát triển theohướng tăng cung hàng hóa cho thị trường cả về số lượng, chất lượng và chủngloại; phát triển các thị trường giao dịch trái phiếu; triển khai thực hiện thịtrường trái phiếu chuyên biệt và thị trường giao dịch chứng khoán chưa niêmyết.

Để khung pháp lý cho hoạt động của thị trường chứng khoánđồng bộ với các quy định khác của Việt Nam, phù hợp với các cam kết quốc tế vàđảm bảo sự bình đẳng cho các thành phần kinh tế, ngành tài chính cần tiến hành sửa đổi và bổsung các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Chứng khoán và một số điểm của Nghịđịnh về kinh doanh chứng khoán và xử phạt hành chính trong lĩnh vực chứngkhoán; Xây dựng Đề án chiến lược phát triển thị trường chứng khoán đến 2020 vàtrình Chính phủ ban hành Nghị định phát hành chứng khoán riêng lẻ.

– Kết hợp chặt chẽ chính sách tiền tệ và chính sách tàikhóa, hài hòa giữa mục tiêu huy động vốn cho tăng trưởng kinh tế, phát triểnbền vững thị trường vốn với ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, đảm bảosự an ninh tài chính

– Phát triển thị trường vốn theo hướng hiện đại, hoàn chỉnhvề cấu trúc ( bao gồm cổ phiếu tập trung, thị trường quản lý OTC, thị trườngtrái phiếu vận hành theo thông lệ quốc tế tốt nhất có khả năng liên kết với cácthị trường khu vực và quốc tế.

Trước mắt cần thành lập thị trườnggiao dịch trái phiếu Chính phủ ( TPCP) . Thị trường TPCP có vai trò quan trọngtrong phát triển kinh tế. Đây không chỉ là một kênh dẫn vốn hữu hiệu cho nềnkinh tế, mà còn tạo ra sự đa dạng hóa các công cụ đầu tư trên thị trường vốn,cho phép các nhà đầu tư có thêm lựa chọn đầu tư ít rủi ro hơn. Thị trường TPCPcòn là nền tảng cơ bản cho sự phát triển của thị trường trái phiếu công tythông qua cung cấp có sở cho định giá chuẩn tin cậy cho các công cụ khác nhờvậy thúc đẩy sự phát triển của thị trường tài chính nói chung. Thị trường TPCPcòn giúp tăng cường sự độc lập trong điều hành chính sách tiền tệ của ngân hàngTW thông qua mua bán TPCP, tác động trực tiếp đến lượng cung tiền và các biếnsố kinh tế vĩ mô khác

Xây dựng và phát triển thị trườngtrái phiếu, đặc biệt là thị trường TPCP, đó là một trong những nội dung quantrọng hàng đầu trong chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt nam từnay đến năm 2020. Nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp của sự kém phát triển thịtrường TPCP của Việt nam chủ yếu đều từ thị trường sơ cấp. Phát triển thịtrường trái phiếu thứ cấp có ý nghĩa rấtquan trọng đối với hoạt động phát hành trên thị trường sơ cấp nói riêng và sựphát triển thị trường trái phiếu và thị trường vốn nói chung. Thị trường pháthành giúp cho Chính phủ huy động vốn phục vụ nhu cầu phát triển trong từng thờikỳ và đồng thời tạo nguồn hàng cho thị trường thứ cấp, góp phần bình ổn và thức đẩy thị trường giao dịch TPCPphát triển. Thị trường giao dịch TPCP là nơi thể hiện rõ nét nhất những bất cậptrên thị trường sơ cấp và nếu được tổ chức tốt thì cũng phản hồi một cách nhanhnhậy nhất các diễn biến về lãi suất trên thị trường. Do vậy, cần xây dựng mộtmô hình giao dịch phù hợp cho thị trường TPCP ở Việt nam với lộ trình phù hợpvới những cải cách trên thị trường giao dịch trái phiếu ở Viêt nam và phù hợp với thông lệ quốc tế

Những giải pháp về quản lý và cơ chế chính sách :

– Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra và có những biệnpháp hạn chế những mặt trái của các đốitượng trên thị trường chứng khoán; Tăng cường công bố thông tin trên thị trườngchứng khoán, nâng cao tính minh bạch của thị trường. Đặc biệt là việc công bốcác thông tin về các tổ chức niêm yết và công ty chứng khoán.

– Cần ban hành Nghị định của Chính phủ về quản lý phát hànhriêng lẻ; Chính phủ cho phép mở chi nhánh và thành lập công ty quản lý Quỹ đầutư chứng khoán 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam sớm hơn lộ trình cam kết trongWTO và ban hành danh mục ngành nghề kinh doanh có kiểm soát tỷ lệ vốn của nhàđầu tư nước ngoài và công bố ra thị trường. Trước mắt, duy trì mức sở hữu nướcngoài 49% vốn điều lệ đối với công ty niêm yết và công ty đại chúng theo luậtchúng khoán. Bộ Tài chính triển khai tổ chức thị trường giao dịch chứng khoáncủa công ty đại chúng chưa niêm yết tại TTGDCK Hà nội thông qua phương thứcgiao dịch OTC tại công ty chứng khoán và thanh toán bù trừ tại trung tâm Lưu kýchứng khoán. Trình Thủ tướng sửa đổi bổ xung Nghị định 14/CP để tăng quy môvốn, công nghệ, nghiệp vụ, giấy phép hành nghề khi thành lập công ty chứngkhoán khắc phục hiện tượng quá tải xin thành lập hiện nay.

Về giải pháp điều chỉnh cung cầu :

Chính phủ cần có lộ trình cho việc phát hành chứng khoán lần đầu ( IPO) thật hợp lý đối vói các doanh nghiệp cổ phầnhóa và các doanh nghiệp phát hành thêm cổ phiếu. Căn cứ vào thực trang và năng lực của từng ngân hàng mà kiểm soát mức cho vay đầu tưchứng khoán, có thể cho phép ngân hàng tăng dự nợ cho vay chứng khoán, nhưngđồng thời cũng phải tăng mức ký quỹ đảm bảo tương ứng

Về địa vị của UBCKNN, hiện nay vẫn là cơ quan trong Bộ Tàichính có chức năng và thẩm quyền, đảm bảo tính độc lập cần thiết và thực quyềntrong việc xử lý các vấn đề nghiệp vụ chứng khoán. Về lâu dài, theo chúng tôikhi thị trường chứng khoán đã phát triển ổn định sẽ sắp xếp lại cho phù hợp vớiyêu cầu của kinh tế thị trường.

Qua những năm hoạt động thị trườngchứng khoán và gần 2 năm thực hiện theo Luật chứng khoán cũng cần xem xét loạibỏ các thủ tục hành chính, các loại giấy phép không cần thiết, nhưng cũng đảmbảo yêu cầu của quản lý Nhà nước để thị trường này phát triển an toàn , ổnđịnh. Hoạt động kinh doanh chứng khoánlà lĩnh vực kinh doanh có điều kiện, còn mới đối với Việt Nam, có nhiều rủi ro.Vì vậy trong quá trình thực hiện Luật chứng khoán ở Việt Nam cần phải luôn xem xét và đánh giátính khả thi và những nội dung của Luật đã đi vào cuộc sống và còn những điềugì bất cập cần phải hoàn thiện và sửa đổi cho phù hợp với điều kiện cũng nhưđặc thù thể chế của Việt nam, nhưng đồng thời cũng phải phù hợp với cam kết vàthông lệ quốc tế.

4- Những giải pháp trước mắtnhằm vực dậy và phát triển thị trườngchứng khoán ViÖtnam

Năm 2008, thị trường chứng khoán Việt nam liên tục biếnđộng phức tạp, dù Bộ Tài chính đã triển khai nhiều giải pháp tích cực. Chỉ sốVN-Index tháng 11 đã giảm tới 70% so với hồi cuối năm 2007. Theo nhận định củaBộ Tài chính, trước tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô trong nước và khủnghoảng tài chính toàn cầu hiện nay, sự phục hồi của thị trường còn nhiều khókhăn. Đến thời điểm này đã có gần 330 cổ phiếu, chứng chỉ quỹ niêm yết trên thịtrường chứng khoán với tổng giá trị vốn hoá cổ phiếu đạt khoảng 19% GDP.

Năm 2009, nền kinh tế Mỹ và thế giới được dự báo vẫn tiếptục xấu đi nếu các biện pháp của các chính phủkhông đạt được kết quả tốt. Điều đó cũng sẽ tác động đến sự phát triểncủa TTCK ở nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Nhưng tác động mạnh nhất là nhữngyếu tố bên trong của chúng ta.

Theo chúng tôi, khi thị trường thế giới bất ổn thì Việt Namchính là nơi có điều kiện đầu tư tốt hơn sẽ thu hút được nhiều hơn. Do đó nếucó những chính sách đúng đắn, thì thị trường sẽ tăng trưởng hợp lý. Điều đó cònphụ thuộc vào các chính sách nuôi dưỡng và khuyến khích của Nhà nước. Hiện TTCKViệt Nam vẫn chưa đủ độ lớn và độ mạnh như chúng ta đã đánh giá về nó. Số lượngtài khoản chứng khoán chỉ mới hơn 300.000 nhưng thật sự giao dịch chỉ khoảng1/2. Đó là một con số rất nhỏ nếu so với dân số của Việt Nam. Theo tôi, tốithiểu phải đạt mức 2% dân số tham gia vào thị trường này thì mới tải được hếtdung lượng của thị trường.

Bên cạnh đó, bình quân lượng giao dịch mỗi ngày chỉ đạtkhoảng 1.000 tỉ đồng so với tổng lượng vốn hóa của thị trường là 500.000 tỉđồng cũng là quá nhỏ. Bất kể sự chuyển dịch nguồn vốn nào cũng sẽ khiến thịtrường bị hụt hẫng ngay. Vì vậy, các chính sách của cơ quan quản lý Nhà nướcphải theo hướng khuyến khích NĐT tham gia hơn là tính đến chuyện xiết chặt vàthu hoạch từ nó. Nếu được cần nới lỏng chính sách về nguồn vốn, thuế thu nhậpchứng khoán.

Về mặt quản lý chuyên ngành, cần tạo nên sự chuyên nghiệp,chuẩn mực và trật tự để NĐT không bị thiệt hại trong quá trình đầu tư của mình,đặc biệt là không làm tổn hại đến quyền lợi của NĐT cá nhân. Cụ thể như nhữngyêu cầu về công bố thông tin của các công ty niêm yết phải được xây dựng theocác tiêu chí rõ ràng và có sự kiểm tra thường xuyên. Bên cạnh đó, các công tykhi phát hành cổ phiếu phải thực hiện chuyên nghiệp hơn. Không tự mình phágiá cổ phiếu theo những kiểu như đã làm từ trước đến nay và khiến cho NĐT thiệthại, ảnh hưởng đến chất lượng của thị trường.

TTCK Việt Nam còn mới và nhỏ, vì thế vai trò của Nhà nướclà hết sức quan trọng trong việc hỗ trợ, kiểm soát, và định hướng để thị trườngphát triển lành mạnh và bền vững. Để hỗ trợ vực dậy thị trường chứng khoán pháttriển trong trước mắt chúng ta cần có các biện pháp sau :

Một là, Chính phủ có thểxem xét cho lùi thời hạn áp dụng thuế thu nhập cá nhân đối với lợi nhuận từ đầutư chứng khoán và có lộ trình ưu đãi thuế. Đối với NĐT, ưu đãi thuế sẽ khuyếnkhích họ đầu tư vào thị trường vốn. Đối với doanh nghiệp, ưu đãi thuế gián tiếpgiảm chi phí vốn, tăng hiệu quả, tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, vàkích thích kinh tế nước nhà tăng trưởng. Kinh tế tăng trưởng thì nguồn thu từthuế thu nhập doanh nghiệp và các loại thuế khác nhờ đó sẽ bù đắp, thậm chí cònlớn hơn nhiều so với khoản thu tạm thời mất đi từ ưu đãi thuế thu nhập chứngkhoán.

Hiện nay, hầu hết NĐT ở lại với thị trường đến thời điểm này đềuđang bị thua lỗ. Nếu phải nộp thêm thuế thì tất nhiên ngày càng nhiều ngườichán nản vì thấy mình bị đối xử “chưa tốt”, vì trong lúc khó khăn không ai sansẻ, điều đó sẽ làm cho NĐT không còn hứng thú với thị trường. Thanh khoản củathị trường thấp thì NĐT có tổ chức trong và ngoài nước cũng không thấy hứng thúđầu tư. Vì vậy sàn vắng, thị trường kém thanh khoản, khó thêm hàng hóa cho thịtrường do cổ phần hóa chậm, doanh nghiệp lớn ngại lên sàn vì sợ giá cổ phiếukhông được như mong muốn. Đó là vòng luẩn quẩn.

Do vậy, để vừa giữ sự nhất quán trong chính sách, vừa hỗtrợ được thị trường, theo chúng tôi vẫncó thể tìm một giải pháp trung dung. Chúng ta vẫn áp dụng đánh thuế trong hoạtđộng kinh doanh chứng khoán, nhưng có thể áp dụng mức thuế suất 0% trong mộtthời gian , như kinh nghiệm một số nước áp dụng giải pháp tạm miễn thuế. Như vậy là thuế chứng khoán vẫn làm đúng lộtrình, nhưng giải pháp thuế tạm thời hỗ trợ thị trường vẫn được thực thi, mọiNĐT hiểu rằng đã kinh doanh chứng khoán là phải nộp thuế. Mặt khác, với cơ quanquản lý, luật thuế cũng đã được thực hiện, chỉ là điều chỉnh thuế suất cho phùhợp, cũng là một cách điều tiết thị trường, một giải pháp hỗ trợ tạm thời choNĐT. Ví dụ như Trung Quốc trong giai đoạn 2006 – 2007 khi thị trường tăng nóng thì Chính phủ nướcnày tăng thuế, gần đây khi thị trường sụt giảm mạnh thì họ miễn thu.

Xem thêm: Khắc Phục Lỗi Tiếng Anh Là Gì ? Sửa Lỗi In English

Nếu thuế thu nhập cá nhân chỉ luôn bảo vệ quan điểm điều tiết thu nhậpmà quên vai trò đòn bẩy kinh tế thì chưa hiểu đầy đủ vai trò của thuế. Do vậy,cần phân biệt tầm quan trọng khác nhau giữa TTCK ( là thị trường vốn rất cầncho nền kinh tế đang tăng trưởng nóng) và thị trường bất động sản (là thị trườngđầu tư sinh lời). Nếu chỉ đứng trên quan điểm điều tiết, điều này sẽ làm chùntay những người muốn tham gia TTCK

Thị trường đi xuống cũng có mặt tích cực của nó. Đó là mộtsự phản hồi rõ ràng về một thị trường vốn trong cơ chế thị trường và hội nhập,song đòi hỏi phải có những chính sách và cơ chế quản lý phù hợp. Còn nếu chỉtìm cách khai thác cho nhiều mục đích thu lợi thì nó sẽ khó có điều kiện pháttriển. TTCK Việt Nam đã có mức phát triển vượt bậc trong năm 2007, nhưng so vớiquy mô và nhiệm vụ phát triển thị trường vốn đến năm 2010 – 2020 của Chính phủthì TTCK cần phải được những cơ chế đặc biệt và đủ mạnh để đạt được mục tiêunày. Qua quan sát các chính sách và điều hành trong những năm qua, tôi thấy cónhiều điểm thiếu nhất quán và đồng bộ.

Hai là, Vấn đề cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Đối với doanhnghiệp ngoài quốc doanh, việc chọn thời điểm và xác định giá chào bán cổ phầnra công chúng thường được tính toán làm sao có lợi nhất cho doanh nghiệp hay cổđông hiện tại. Tuy nhiên, đối với doanh nghiệp nhà nước, lợi ích của doanhnghiệp và mục tiêu phát triển kinh tế chung cần được cân đối. Để đạt được điềuđó, Chính phủ cần quyết tâm thực hiện lộ trình cổ phần hóa đã vạch ra. Giá chàobán cổ phần ra công chúng cần được tính toán hợp lý hơn, căn cứ vào khả năngsinh lợi thực sự của doanh nghiệp, để khuyến khích người dân tham gia. Nguồnvốn nhàn rỗi trong dân nhờ đó sẽ được huy động tối đa vào phát triển kinh tếthay vì chảy vào những kênh khác kém hiệu quả, không có lợi cho phát triển kinhtế và xã hội.

Việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước có nhiệm vụ quantrọng là chuyển đổi cơ chế sở hữu và quản lý sang công ty cổ phần còn việc bánđể thu vốn cho ngân sách không nhất thiết phải thu ngay một lượng lớn. Do vậy,nếu việc IPO chỉ bán một phần nhỏ (dưới 10%) và lộ trình bán có thể kéo dàinhiều lần trong 3 – 5 năm thì nguồn cung cũng không tăng đột biến mà nhiệm vụchuyển đổi doanh nghiệp cũng hoàn thành.

Quy mô TTCK Việt Nam vẫn còn nhỏ thì việc cổ phần hóa các doanhnghiệp lớn, đưa các công ty này lên sàn sẽ tạo nên một thị trường lớn hơn. KhiTTCK có đủ độ lớn, đủ tính thanh khoản thì các quỹ đầu tư nước ngoài sẽ đưa vàodanh mục đầu tư của mình theo nguyên tắc phân chia rủi ro theo địa lý, ngànhnghề… Tất nhiên việc định giá khi bán cổ phần phải được tính toán hợp lý chứkhông nên đưa giá bán lên quá cao sẽ là “lợi bất cập hại”. Lộ trìnhthực hiện cũng phải được xem xét kỹ hơn để thị trường không có phản ứng tiêucực với điều đó. Theo tôi, quý 2 năm nay TTCK sẽ bắt đầu tăng trưởng tốt hơn.Tuy nhiên, sự tăng trưởng năm nay cũng phụ thuộc nhiều vào các chính sách mớicủa Nhà nước và chỉ số lạm phát đứng ở mức nào

Ba là, Ngân hàng Nhànước cần có dự báo tốt về nguồn ngoại tệ đổ vào TTCK và giải quyết đúng đắn trongmối quan hệ với lạm phát. Nếu có bước dự đoán đúng thì NHNN có thể phát hànhtrái phiếu thu tiền đồng để mua USD của NĐT nước ngoài, điều này giúp NĐT cótiền để mua chứng khoán mà không tăng lượng cung tiền gây lạm phát… Từ đó cóthể nói rằng, việc TTCK phát triển như thế nào là tùy thuộc vào các cơ quanhoạch định chính sách.

Bốn là, Cơ quan quản lýlà người điều phối thị trường, giữ nhịp cho thị trường phát triển nên các chínhsách phải có sự ổn định. Phải giải quyết được những vướng mắc hiện nay để tạodựng niềm tin NĐT trong và ngoài nước. Tâm lý NĐT đang cực thấp nên phải”tiêm” vào một “liều thuốc hồi sinh”. Vấn đề quan trọng làkhơi thông được nguồn tiền để đầu tư vào TTCK. TTCK phát triển mạnh lên thìnguồn vốn từ các nơi khác như bất động sản, vàng… sẽ tự động chảy về. Khi đó,thị trường bất động sản cũng sẽ tự lắng dịu mà không cần Nhà nước phải có nhữngchính sách kiềm chế. Các thị trường như bình thông nhau nên sự điều tiết sẽdiễn ra tự nhiên hơn mà không cần cơ quan quản lý nhà nước phải can thiệp quásâu.

Trả lời

Back to top button