Giá Bảng Anh Thị Trường Chợ Đen Hôm Nay, Tỉ Giá Ngoại Tệ 26

Dữ liệu tỷ giá được cập nhật liên tục từ 21 ngân hàng lớn có hỗ trợ giao dịch Bảng Anh.Bao gồm: ABBANK, ACB, Agribank, BIDV, DongABank, Eximbank, Hdbank, HSBC, MSB, MBBANK, NH Nhà Nước, Pvcombank, Sacombank, SCB, SHB, Techcombank, VIB, Vietcapitalbank, Vietcombank, Vietinbank, VPBank.

Đang xem: Giá bảng anh thị trường chợ đen hôm nay

Công cụ chuyển đổi Bảng Anh (GBP) và Việt Nam Đồng (VNĐ)

*

GBP

*

VND

* Tỷ giá của máy tính được tính bằng trung bình cộng của giá mua GBP và giá bán GBP tại các ngân hàng. Vui lòng xem chi tiết ở bảng bên dưới.

Bảng so sánh tỷ giá Bảng Anh (GBP) tại21 ngân hàng

Bảng so sánh tỷ giá Bảng Anh mới nhất hôm nay tại các ngân hàng.Ở bảng so sánh tỷ giá bên dưới,giá trị màu xanh sẽ tương ứng với giá cao nhất;màu đỏ tương ứng với giá thấp nhất trong cột.

Ngân hàngMua vàoBán raTiền mặtChuyển khoảnTiền mặtChuyển khoản
ABBANK
ACB 31.718 34 32.316 35
Agribank
BIDV 31.306 43 31.495 43 32.575 40 32.575 40
DongABank 31.670 30 31.790 20 32.230 -30 32.220 30
Eximbank
Hdbank 31.715 9 31.795 9 32.208 -15 32.208 15
HSBC
MSB 31.841 47 31.841 47 32.492 47 32.492 47
MBBANK 31.430 25 31.588 25 32.499 356 32.499 356
NH Nhà Nước 31.202 11 31.202 11 33.132 12 33.132 12
Pvcombank
Sacombank 31.777 27 31.877 27 32.282 34 32.082 34
SCB 31.660 50 31.790 50 32.240 50 32.240 50
SHB 31.586 7 31.686 7 32.286 7 32.286 7
Techcombank 31.358 33 31.609 34 32.511 -33 32.511 33
VIB 31.476 18 31.762 18 32.248 18 32.248 18
Vietcapitalbank 31.217 22 31.532 23 32.510 24 32.510 24
Vietcombank 31.207 4 31.523 5 32.511 5 32.511 5
Vietinbank 31.605 20 31.655 20 32.615 20 32.615 20
VPBank

+ Ngân hàng NH Nhà Nướcđang mua chuyển khoản GBP với giá thấp nhất là:31.202 vnđ / 1 GBP

+ Ngân hàng MSBđang mua tiền mặt GBP với giá cao nhất là:31.841 vnđ / 1 GBP

+ Ngân hàng Sacombankđang mua chuyển khoản GBP với giá cao nhất là:31.877 vnđ / 1 GBP

Ngân hàng bán ngoại tệ Bảng Anh (GBP)

+ Ngân hàng Hdbankđang bán tiền mặt GBP với giá thấp nhất là:32.208 vnđ / 1 GBP

+ Ngân hàng Sacombankđang bán chuyển khoản GBP với giá thấp nhất là:32.082 vnđ / 1 GBP

+ Ngân hàng NH Nhà Nướcđang bán tiền mặt GBP với giá cao nhất là:33.132 vnđ / 1 GBP

+ Ngân hàng NH Nhà Nướcđang bán chuyển khoản GBP với giá cao nhất là:33.132 vnđ / 1 GBP

Giới thiệu đồngBảng Anh

Bảng Anh(ký hiệu£, mã ISO: GBP) tứcAnh kimlà đơn vị tiền tệ chính thức củaVương quốc Anhvà các lãnh thổ hải ngoại, thuộc địa. Một bảng Anh gồm 100 xu (pence hoặc penny).

Ký hiệu của đồng bảng ban đầu có hai gạch trên thân (₤), sau này mới chuyển thành một gạch (£), ký hiệu này xuất xứ từ ký tự L trong LSD – tên viết tắt của các đơn vị trong hệ đếm 12 – librae, solidi, denarii, chuyển sangtiếng Anhlà Pound, shilling và pence (hoặc penny).

Đồng bảng Anh là đồng tiền lâu đời nhất còn được sử dụng sau khi một số quốc gia thuộc khốiEUchuyển sang dùng đồngEuro(€). Nó là đồng tiền được lưu trữ trong các quỹ dự trữ ngoại tệ toàn cầu, mức phổ biến chỉ sau đồngđô la Mỹvà đồngEuro. Đồng bảng đứng thứ tư về khối lượng giao dịch ngoại tệ toàn cầu sau đồngđô la Mỹ, đồngEurovà đồngYên Nhật.

Trước năm 1971, một bảng là 20 shilling, một shilling là 12 xu (pence). Như vậy một bảng là 240 xu. Ngày nay, đơn vị shilling không tồn tại nữa, một bảng Anh (£1) bằng một trăm xu (100p). Đồng xu kim loại kiểu cũ rút ra khỏi hệ thống thanh toán năm 1980.

Tỷ giá hối đoái

Tỷ giá giao dịch củađô la Mỹvới đồng bảng Anh(USD/GBP) qua các năm:

1.23 (2016)Yahoo.com0.5418 (2006),0.5493 (2005),0.5462 (2004),0.6125 (2003),0.6672 (2002).28,068Tỷ giá Ngân hàng Vietcombank27,954Yahoo.com

Lịch sử đồng bảng Anh

Trước thời đồng bảng

Thời Anglo-Saxon, những đồng xu bạc gọi là đồng sceat được sử dụng trong thương mại và nặng 20 grain (xấp xỉ 1,3 gram).

Vua Offa ở vùng Merica giữa nước Anh ngày nay (khoảng năm 790) phát hành đồng penny bạc nặng 22,5 grain (xấp xỉ 1.5 gram). 240 đồng penny bạc nặng tương đương một đơn vị bạc gọi là Tower pound, tổng cộng 5.400 grain (349,9 gram)

Năm 1526, đơn vị pound bạc được nâng lên 373,242 gram gọi là Troy pound.

Là một đơn vị tiền tệ, đồng bảng Anh xuất xứ từ giá trị của khối lượng bạc trong đồng Tower pound.

Đồng bảng (pound sterling)

Tên gọi đồng bảng (pound) bắt nguồn từ đồng Tower pound có hàm lượngbạctinh khiết khá cao đạt 92,5% (đồngchiếm phần còn lại 7,5%).

Đồng bảng Anh ngày nay (pound sterling) được xác lập bởi Nữ hoàng Elizabeth I và các cố vấn của bà. Những năm trước đó từ 1543-1551, nước Anh dưới thời vua Tudor trải qua biến động tài chính, đồng xu bạc – tiền của nước Anh giảm hàm lượng bạc rất nhiều. Tới năm 1551, hàm lượng bạc trong đồng penny của nước Anh chỉ còn một phần ba. Dưới thời Nữ hoàng Elizabeth I, những đồng xu bạc cũ được thu về để đúc lại hoặc đổi đồng xu mới theo một tỷ lệ có khấu trừ.

Kể từ đó, đồng pound sterling giữ ổn định giá trị nội tại của nó bất kể các đồng tiền khác củaChâu Âuthay đổi ra sao, qua các khủng hoảng tài chính năm 1621, 1694-96, 1774 và 1797 và thậm chí là sau khi nước Anh chuyển sangbản vị vàng. Ngay cả những loạn lạc củaNội chiến nước Anhcũng không làm đồng bảng mất giá. Có ý kiến cho rằng nhờ đồng tiền vững giá trong nhiều thế kỷ, nước Anh xây dựng được nền tảng tài chính ưu việt, hệ thống tín dụng an toàn, uy tín trong suốt thế kỷ 18. Đồng bảng là đồng tiền chính thức củaNgân hàng Anhngay khi nó thành lập năm 1694.

Bản vị vàng

Đồng bảng chuyển sangbản vị vàngmột cách không chính thức từ bản vị bạc nhờ sự định giá vàng quá cao ở Anh khiến vàng chảy về nước Anh đối lại cho dòng xuất khẩu bạc đều đặn. Thực tế này xảy ra dù có việc tái định giá vàng năm 1717 của NgàiIsaac Newtonlúc đó là người đứng đầu Xưởng đúc tiền hoàng gia (Royal Mint). Bản vị vàng được lập lại sau khiChiến tranh Napoleoncho đến sauChiến tranh thế giới thứ nhất.

Cho đến trướcChiến tranh thế giới lần thứ nhất, nước Anh là một trong những nền kinh tế mạnh nhất thế giới, chiếm 40% luồng xuất ngoại đầu tư của toàn cầu. Thế nhưng, sau chiến tranh, nó vay nợ 850 triệu bảng chủ yếu là từHoa Kỳ, với lãi suất lên tới 40% chi tiêu củachính phủ.

Trong một nỗ lực lấy lại sự ổn địnhtiền tệ,bản vị vàngđược khôi phục năm 1925, theo đó bảng Anh quay lại nội dung vàng ở mức trước chiến tranh, dẫu rằng người ta chỉ có thể đổi đồng bảng lấy vàng thỏi chứ không phải xu vàng. Bản vị vàng bị từ bỏ ngày 21 tháng 09 năm 1931 trong thời gianĐại khủng hoảngvà bảng Anh mất giá 25%.

Xem thêm: 10+ Vay Tiền Nhanh Bằng Cmnd Hỗ Trợ Vay Tiền Nhanh Online 24/24 Chỉ Cần Cmnd

Ngày nay, việc đảm bảo quy đổi tiền tệ ra kim loại quý không còn nữa.Dollar Mỹlà đồng tiền cuối cùng duy trì bản vị vàng tới năm 1971. Bảng Anh đã từng là đồng tiền của nhiều khu vực củaĐế quốc Anh. Khi Đế quốc Anh trở thànhKhối thịnh vượng chung, các quốc gia tự phát hành đồng tiền riêng như đồng bảng Australia (1910-1966) và đồng bảng Ireland (1928-1999). Những đồng tiền này nằm trong ảnh hưởng của đồng bảng và tỷ giá gắn với bảng Anh.

Gắn chặt với đô la Mỹ

Kể từ khi từ bỏ cam kết quy đổi trực tiếp đồng bảng ra vàng (bản vị vàng), có một số nỗ lực để cố định giá trị của bảng Anh với một số ngoại tệ khác, đặc biệt là vớiđô la Mỹ.

Dưới những áp lực kinh tế liên tiếp và mặc dù luôn từ chối phá giá đồng bảng, cuối cùng, ngày 19 tháng 9 năm 1949, chính phủ Anh buộc phải phá giá tiền tê 40% từ tỷ giá với đô la Mỹ là £1 = US$4 xuống US$2,80. Động thái này kéo theo sự phá giá so với đô la Mỹ của đồng tiền các quốc gia khác gồmÚc,Đan Mạch,Ireland,Ai Cập,Ấn Độ,Israel,New Zealand,Na Uy, vàNam Phi.

Đến giữa những năm 1960, đồng bảng lại đứng trước áp lực phá giá so với đồng đô la Mỹ. Mùa hè năm 1966, giá trị bảng Anh tụt xuống trên thị trường tiền tệ. Chính phủ của thủ tướng Wilson buộc phải thắt chặt kiểm soát giao dịch ngoại tệ. Ngày 18 tháng 11 năm 1967, đồng bảng Anh mất giá tới 14,3% xuống mức £1 = US$2,41. Trong nhiều biện pháp quản lý, có cả những biện pháp cực đoan như cấm khách du lịch mang ra khỏi nước Anh quá £50. Sự cấm đoán được dỡ bỏ năm 1970.

Cùng với sự sụp đổ củaHệ thống tiền tệ Bretton Woods, đồng tiền của nước Anh được thả nổi, để tự thị trường quyết định giá trị. Khu vực ảnh hưởng của đồng bảng Anh chấm dứt sự tồn tại cùng quyết định này, các thành viên của khu vực cũng thả nổi tỷ giá tiền tệ.

Một cuộc khủng hoảng tài chính nữa diễn ra năm 1976 khi có tin tiết lộ rằngQuỹ tiền tệ quốc tế(IMF) cho rằng tỷ giá của đồng bảng nên ở tỷ giá £1 = US$1,50. Kết quả là tỷ giá thị trường của bảng Anh sa xuống mức £1 = US$1,57 và chính phủ Anh quyết định phải vay £2,3 tỷ từ IMF để cứu vãn tỷ giá đồng tiền. Đầu thập kỷ 1980, đồng tiền nước Anh tăng dần giá trị lên trên US$2 nhờ lãi suất tăng lên khichính sách tiền tệhướng đến sử dụng công cụ nguồn cung tiền tệ. Tỷ giá cao của đồng bảng bị chỉ trích là một nguyên nhân của sựsuy thoái kinh tếcủa nước Anh năm 1981. Tỷ giá tụt xuống mức thấp nhất là tháng 2 năm 1985 với giá £1 =US$1,05. Nó nhanh chóng lấy lại sức mạnh vào đầu những năm 1990, trở về ngưỡng US$2.

Gắn chặt với đồng Mác Đức

Năm 1988, Bộ trưởng Tài chính Nigel Lawson dưới thời thủ tướngMargaret Thatcherquyết định rằng đồng bảng sẽ “theo bóng” đồngMác Tây Đức. Hậu quả làlạm phátgia tăng nhanh chóng trong khi kinh tế bùng nổ ngắn hạn bởi lãi suất quá thấp. Chính phủ củaĐảng Bảo thủ Anhtừ chối sử dụng các cơ chế bổ sung khác nhằm kiểm soát bùng nổ tín dụng. Cựu thủ tướng Ted Health mô tả Bộ trưởng Tài chính Nigel Lawson là “tay chơi gôn chỉ có một gậy”.

Gắn với đồng tiền chung châu Âu

Một thay đổi chính sách tỷ giá khác là vào ngày 08 tháng 10 năm 1990 khi chính phủ của thủ tướngThatchergia nhậpCơ chế tỷ giá châu Âu(European Exchange Rate Mechanisim – ERM) ở tỷ giá £1 = DM2,95. Tuy vậy, saungày thứ Tư đen tối(16 tháng 09 năm 1992), nước Anh ra khỏi cơ chế này bởi nền kinh tế Anh làm cơ chế này không thể duy trì được. Tỷ phúGeorge Soroskiếm được khoảng 1 tỷ đô la Mỹ nhờ đầu cơ bán trước mua sau đồng bảng Anh.

Sự kiện“thứ Tư Đen”chứng kiến tỷ lệ lãi suất nhảy vọt từ 10% lên 12% và cuối cùng là 15% trong một nỗ lực vô ích nhằm cứu vãn tỷ giá đồng bảng không bị rớt khỏi các mức giới hạn của Cơ chế tỷ giá châu Âu. Tỷ giá ngoại hối sa xuống £1 = DM2,20. Những người ủng hộ giá trị thấp của đồng bảng cho rằng đồng tiền Anh rẻ hơn đã thúc đẩy xuất khẩu và góp phần vào sự thịnh vượng kinh tế của nước Anh thập kỷ 1990.

Ngân hàng trung ươngcủa Malaysia (Bank Negara Malaysia) tiết lộ rằng nó bị lỗ hơn 4 tỷ đô la Mỹ khi đồng bảng Anh bị phá giá.

Theo đuổi mục tiêu kiểm soát lạm phát

Chính phủ của Công Đảng đắc cử năm 1997 đã làm một quyết định gây ngạc nhiên khi bộ trưởng tài chínhGordon Brownchuyển giao công việc kiểm soát lãi suất choNgân hàng Anh. Ngày nay, Ngân hàng Anh chịu trách nhiệm ấn định các lãi suất cơ bản sao cho tỷ lệ lạm phát ở sát mức 2% hàng năm. Nếu tỷ lệ lạm phát (làchỉ số giá tiêu dùng) dao động quá 1% trên hoặc dưới mức 2%, thống đốc Ngân hàng Anh phải viết thư ngỏ giải trình với Bộ trưởng Tài chính và báo cáo các biện pháp sẽ được thực hiện để đưa tỷ lệ lạm phát trở lại 2%. Ngày 17 tháng 4 năm 2007, báo cáo chỉ số lạm phát cho thấy con số này đã là 3,1% (chỉ số tăng giá bán lẻ là 4,8%). Theo đó, lần đầu tiên kể từ khi được giao kiểm soát lạm phát, thống đốc Ngân hàng Anh phải giải trình trước chính phủ Anh về thực tế này.

Với đồng tiền chung châu Âu – Euro (€)

Là một thành viên củaLiên minh châu Âu, nước Anh có quyền chấp nhận euro (€) là đồng tiền chính thức của nó. Song, do còn nhiều tranh cãi về mặt chính trị không chỉ là bởi nước Anh đã từng bị buộc phải ra khỏi Cơ chế Tỷ giá châu Âu khi mà sự yếu kém của kinh tế Anh làm cho cơ chế này không duy trì được. Cùng với Đan Mạch và Thụy Điển, Anh chưa gia nhập đồng hệ thống đồng tiền chung châu Âu. Đứng về mặt lý thuyết, các quốc gia thuộc Liên minh châu Âu phải gia nhập hệ thống này và chấp nhận đồng euro, tuy nhiên có quyền trì hoãn không xác định thời gian. Việc thay thế đồng bảng bằng đồng euro gặp phải trở ngại còn bởi lý do đồng bảng là biểu tượng tự hào quốc gia của Anh.

Đầu thế kỷ 21

Mặc dù bảng Anh và Euro (€) không gắn chặt với nhau, hai đồng tiền này đã có một thời gian dài lên xuống cùng nhau. Cho đến giữa năm 2006, sự song hành này mới chấm dứt. Những lo ngại về lạm phát khiến Ngân hàng Anh hai lần nâng tỷ lệ lãi suất ngoài dự kiến vào cuối năm 2006 và đầu 2007, kết quả là đồng bảng chạm mức tỷ giá so với Euro (€) cao nhất kể từ tháng 1 năm 2003. Ngày 18 tháng 04 năm 2007, đồng bảng Anh nhảy lên mức tỷ giá cao nhất trong vòng 26 năm so với đô la Mỹ. Trước đó một ngày, nó đã vượt qua ngưỡng US$2 của năm 1992.

Giá trị của đồng bảng

Năm 2006, thư viện củaHạ Nghị viện Vương quốc Anhphát hành một ấn bản<2>thống kê giá trị của bảng Anh từng năm từ 1750 đến 2005 với giá trị của năm 1974 (là năm bỏbản vị vàngcủa nền kinh tế Mỹ) là 100. Tài liệu này là bản cập nhật của những ấn bản phát hành năm 1998 và 2003.

Về giai đoạn 1750-1914, tài liệu nhận xét: “Mặc dù giá cả có những biến động đáng kể theo từng năm trước năm 1914 (phản ánh tình hình mùa màng, chiến tranh, v.v..) nhưng trong thời gian dài mức tăng giá không thể so sánh với giai đoạn sau 1945”. Bản nhận xét tiếp tục, “từ năm 1945, giá cả tăng hàng năm tổng cộng đến 2005 là hơn 27 lần mức giá năm 1945”.

Xem thêm: Chiến Lược Định Vị Thị Trường Của Apple, (Doc) Chien Luoc Khac Biet Hoa San Pham Cua Apple

Chỉ số giá trị đồng bảng năm 1750 là 5,1, tăng đến đỉnh cao ở con số 16,3 năm 1813, và sau đó nhanh chóng giảm xuống quanh 10,0 ngay sau kết thúcchiến tranh Napoleon. Cho đến hết thế kỷ 19, chỉ số dao động trong khoảng 8,5 đến 10,0. Chỉ số đồng bản năm 1914 là 9,8; lên đỉnh cao 25,3 năm 1920 để rồi giảm xuống 15,8 năm 1933 và 1934. Như vậy giá cả thời điểm này đã gấp ba lần so với 180 năm trước đó.

Lạm phátđã có ảnh hưởng to lớn trong và sauChiến tranh thế giới thứ hai: – chỉ số 20,2 năm 1940 và 757,3 năm 2005

Chỉ số giá cả (năm 1974=100)Thời gian
5,1 1750
16,3 1813
8,5 – 10,0 suốt thế kỷ 19
9,8 1914
25,3 1920
15,8 1933 và 1934
20,2 1940
33,0 1950
49,1 1960
73,1 1970
263,7 1980
497,5 1990
671,8 2000
757,3 2005

Trả lời

Back to top button