Câu 7 : Các Công Cụ Của Thị Trường Tiền Tệ (Tttt) Và Phân Biệt Giũa Các Công Cụ

Các công cụ lưu thông trên thị trường tiền tệ Tín phiếu kho bạc- Tín phiếu kho bạc là công cụ vay nợ ngắn hạn của chính phủ do Kho bạc phát hành để bù đắp cho những thiếu hụt tạm thời của Ngân sách Nhà nước.- Tín phiếu kho bạc thuộc loại chứng khoán chiết khấu. Đó là loại chứng khoán không được nhà phát hành trả lãi song lại được bán với giá chiết khấu tức là giá thấp hơn mệnh giá. Khi đến hạn, nhà đầu tư được nhận lại đủ mệnh giá, vì vậy phần chênh…

Đang xem: Các công cụ của thị trường tiền tệ

*

Các công cụ của thị trường tài chính 1. Các công cụ lưu thông trên thị trường tiền tệ* Tín phiếu kho bạc- Tín phiếu kho bạc là công cụ vay nợ ngắn hạn của chính phủ do Kho bạc phát hànhđể bù đắp cho những thiếu hụt tạm thời của Ngân sách Nhà nước.- Tín phiếu kho bạc thuộc loại chứng khoán chiết khấu. Đó là loại chứng khoánkhông được nhà phát hành trả lãi song lại được bán với giá chiết khấu tức là giá thấphơn mệnh giá. Khi đến hạn, nhà đầu tư được nhận lại đủ mệnh giá, vì vậy phầnchênh lệch giữa mệnh giá chứng khoán và giá mua chứng khoán chính là lãi của nhàđầu tư.- Tín phiếu kho bạc có các kỳ hạn 3, 6 và 12 tháng.- Tín phiếu kho bạc được xem là công cụ tài chính có đ ộ rủi ro thấp nh ất trên th ịtrường tiền tệ bởi vì hầu như không có khả năng vỡ nợ từ người phát hành. Tínphiếu kho bạc được mua bán nhiều nhất, đặc biệt là các tổ chức tín dụng khi quảnlý khả năng thanh toán. Chính vì vậy, tín phiếu kho bạc là công cụ có tính lỏng caonhất trên thị trường tiền tệ. Tuy nhiên mức lãi suất tín phiếu kho bạc thường thấphơn các công cụ khác lưu thông trên thị trường tiền tệ.- Tín phiếu kho bạc thường được phát hành theo từng lô bằng phương pháp đấu giá.Người mua chủ yếu là ngân hàng, ngoài ra còn có các công ty và các trung gian tàichính khác.- Tín phiếu kho bạc còn được Ngân hàng Trung ương các nước sử dụng như mộtcông cụ điều hành chính sách tiền tệ lưu thông qua nghiệp vụ thị trưởng mở.* Các chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng được (NCD)- Chứng chỉ tiền gửi là một công cụ nợ do các ngân hàng phát hành, cam kết trả lãiđịnh kỳ cho khoản tiền gửi và sẽ hoàn trả vốn gốc (được gọi là mệnh giá c ủachứng chỉ) cho người gửi tiền khi đến ngày đáo hạn.- Thời gian đầu, các chứng chỉ tiền gửi không được phép bán lại và nếu người gửitiền rút vốn trước hạn thì sẽ phải phạt chịu. Sau này, để tăng tính hấp d ẫn c ủachứng chỉ tiền gửi này, các ngân hàng bắt đầu cho phép các chứng chỉ ti ền gửi cómệnh giá lớn (ví dụ ở Mỹ là trên 100.000 USD) được phép bán lại trước hạn (vớimột mức giá khấu trừ), thậm chí có thể bán cho chính ngân hàng phát hành. Khi đóchúng được gọi là các chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng (NCDs).- NCDs thường được các ngân hàng dùng để huy động các nguồn vốn lớn từ cáccông ty, các quỹ tương hỗ thị trường tiền tệ, các tổ chức của chính phủ.

Xem thêm: So Sánh Cổ Phiếu Phổ Thông Và Trái Phiếu Và Trái Phiếu Theo Quy Định Hiện Hành

Xem thêm: Ca Sĩ Tạ Quang Thắng Là Ai, Tiểu Sử Ca Sĩ Tạ Quang Thắng

vv… TạiMỹ, tổng dư nợ từ phát hành các NCDs của các ngân hàng có thời gian còn vượt quátổng số dư nợ của tín phiếu kho bạc Mỹ.* Thương phiếu.- Thương phiếu là những giấy nhận nợ do các công ty có uy tín phát hành để vay vốnngắn hạn từ thị trường tài chính.- Thương phiếu được phát hành theo hình thức chiết khấu, tức là được bán với giáthấp hơn mệnh giá. Chênh lệch giữa giá mua và mệnh giá thương phiếu chính là thuthập của người sở hữu thương phiếu.- Những thương phiếu nguyên thủy chỉ xuất hiện trong các hoạt động mua bán chịuhàng giữa các công ty kinh doanh với nhau. Người bán chịu hay người mua chịu hànghóa có thể phát hành thương phiếu nhưng bản chát vẫn là giấy xác nhận quy ền đòitiền khi đến hạn của người sở hữu thương phiếu. Ngày nay, thương phiếu đượcphát hành không chỉ trong quan hệ mua bán chịu hàng hóa mà còn được phát hành đểvay vốn trên thị trường tiền tệ. Các công ty danh tiếng khi có nhu c ầu v ốn có th ểphát hành thương phiếu bán trực tiếp cho người mua theo mức giá chiết khấu.Những người đầu tư thương phiếu thường là các ngân hàng, trung gian tài chính phingân hàng và công ty khác.- Các thương phiếu có mức độ rủi ro cao hơn tín phiếu kho bạc nhưng mức lãi suấtchiết khấu cao hơn.- Thị trường thương phiếu ngày nay rất sôi động và phát triển với tốc độ rất nhanh.Việc chuyển nhượng thương phiếu được thực hiện bằng hình thức ký hậu.* Chấp phiếu ngân hàng.- Chấp phiếu ngân hàng là các hối phiếu kỳ hạn do các công ty ký phát và được ngânhàng đảm bảo thanh toán bằng các đóng dấu “đã chấp nhận” lên tờ hối phiếu.- Khi người bán không tin vào khả năng thanh toán của người mua trong các giao dịchmua bán chịu, họ sẽ yêu cầu người mua phải có sự bảo đảm thanh toán từ một ngânhàng có uy tín. Khi ngân hàng chấp nhận bảo lãnh cho khoản thanh toán (đóng dấuchấp nhận trả tiền lên tờ hối phiếu), nghĩa là người bán (ký phát hối phiếu) đ ượcquyền đòi tiền thẳng ngân hàng nếu người mua không hoàn thành nghĩa vụ thanhtoán khi đến hạn. Trong trường hợp này, vị thế người trả tiền hối phiếu chuyển từngười mua sang ngân hàng. Vì vậy người bán được đảm bảo khá chắc chắn về khảnăng thanh toán của tờ hối phiếu. Để được ngân hàng ký chấp nhận vào tờ hốiphiếu, người mua chịu phải ký quỹ gửi vào ngân hàng một phần hoặc toàn bộ sốtiền của tờ hối phiếu hoặc được ngân hàng đồng ý cho vay để thanh toán hối phiếu.Người mua phải chịu một khoản phí đảm bảo thanh toán. Chấp phiếu ngân hàngđược sử dụng khá phổ biến trong lĩnh vực xuất nhập khẩu.- Do được ngân hàng chấp nhận thanh toán nên các chấp phiếu ngân hàng là mộtcông cụ nợ có độ an toàn khá cao. Nhất là khi ngân hàng chấp nhận là các ngân hànglớn, có uy tín. Những người sở hữu chấp phiếu có thể đem bán chúng trên thị trườngtiền tệ với giá chiết khấu để thu tiền mặt ngay khi cần vốn gấp.* Hợp đồng mua lại.- Hợp đồng mua lại là hợp đồng trong đó ngân hàng bán một số lượng tín phiếu kho

Trả lời

Back to top button