Quy Luật Giá Trị Và Biểu Hiện Của Quy Luật Giá Trị Trong Nền Kinh Tế Thị Trường

Tham khảo tài liệu “quy luật giá trị trong nền kinh tế thị trường”, khoa học xã hội, chính trị – triết học phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

Đang xem: Biểu hiện của quy luật giá trị trong nền kinh tế thị trường

Phần mở đầu Chúng ta đã biết được quy luật giá trị là quy luật kinh tế quan trọng nhất củasản xuất và trao đổi hàng hoá .Do đó mà ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hoáthì ở đó có sự xuất hiện cuả quy luật giá trị.Mọi hoạt động cuả các chủ thểkinh tế trong sản xuất và lưu thông hàng hoá đều chịu sự tác động cuả quy luậtnày.Quy luật giá trị là nguyên nhân chính dẫn đến khủng hoảng kinh tế chukì,phân hoá giàu nghèo,những cuộc cạnh tranh không lành mạnh…Chính vì thếchúng ta cần nghiên cứu về quy luật giá trị,tìm hiểu vai trò và tác động của nótới nền kinh tế,đặc biệt là trong thời kì phát triển nền kinh tế thị trường củanước ta hiện nay. Bài viết này chia thành 2 chương, bao gồm:Chương I: Cơ sở lí luận về quy luật giá trị và vai trò của quy luật giá trịvới nền kinh tế thị trường. Trong phần này sẽ trình bày những vấn đề chung nhất, cơ bản nhất vềquy luật giá trị, bản chất, vai trò quy luật giá trị và nội dung của quy luật giá trị.Chương II: Thực trạng sự vận dụng quy luật giá trị trong nền kinh tế thịtrường và giải pháp nhằm vận dụng tốt hơn quy luật giá trị ở nước tathời gian tới.Chương này sẽ nghiên cứu cụ thể sự vận dụng quy luật giá trị ở nước ta, cácđặc trưng và cấu trúc nền kinh tế thị trường ở nước ta. Em xin gửi lời chân thành cảm ơn thầy giáo Trần Việt Tiến đã hướng dẫngiúp đỡ em hoàn thành đề tài này. Trong bài viết còn nhiều sai sót mong thầy chỉbảo để em rút kinh nghiệm lần sau sửa chữa. Em xin chân thành cảm ơn! 1 Nội dungCHƯƠNG 1: Cơ sở lí luận về quy luật giá trị và vai trò của quy luật giá trị với nền kinh tế thị trường.1.1. Nội dung cuả quy luật giá trị và sự vận động của quy luật giá trị Khái niệm quy luật giá trị.1.1.1Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản nhất cuả sản xuất và trao đổi hànghoá .Chừng nào còn sản xuất và trao đổi hàng hoá thì chừng đó còn quy luật giátrị.1.1.2 Nội dung và sự vận động của quy luật giá trị. Quy luật giá trị là quy luật kinh tế căn bản của sản xuất và lưu thông hànghoá.Quy luật giá trị đòi hỏi việc sản xuất và lưu thông hàng hoá phải dựa trêncơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết,cụ thể là:-Trong sản xuất thì hao phí lao động cá biệt phải phù hợpvới hao phí lao độngxã hội cần thiết.Vì trong nền sản xuất hàng hóa ,vấn đề đặc biệt quan trọng làhàng hóa sản xuất ra có bán được hay không.Để có thể bán được thì hao phí laođộng để sản xuất ra hàng hóa cuả các chủ thể kinh doanh phải phù hợp với mứchao phí lao động xã hội có thể chấp nhận được .Mức hao phí càng thấp thì họcàng có khả năng phát triển kinh doanh,thu được nhiều lợi nhuận,ngược lại sẽbị thua lỗ,phá sản…-Trong trao đổi hàng hoá cũng phải dựa vào hao phí lao động xã hội cầnthiết,tức là tuân theo nguyên tắc trao đổi ngang giá,hai hàng hoá có giá trị sửdụng khác nhau,nhưng có lương giá trị bằng nhau thì phải trao đổi ngang nhau. Đòi hỏi trên của quy luật là khách quan ,đảm bảo sự công bằng ,hợp lí,bìnhđẳng giữa những người sản xuất hàng hoá. 2 Quy luật giá trị bắt buộc những người sản xuất và trao đổi hàng hoá phải tuântheo yêu cầu hay đòi hỏi cuả nó thông qua “ mệng lệnh” của giá cả thị trường. Tuy nhiên trong thực tế do sự tác động cuả nhiều quy luật kinh tế ,nhất là quyluật cung cầu làm cho giá cả hàng hoá thường xuyên tách rời giá trị. Nhưng sự tách rời đó chỉ xoay quanh giá trị,C.mác gọi đó là vẻ đẹp của quyluật giá trị.Trong vẻ đẹp này ,giá trị hàng hoá là trục ,giá cả thị trường lên xuốngquanh trục đó.Đối với mỗi hàng hoá ,giá cả của nó có thể cao thấp khácnhau,nhưng khi xét trong một khoảng thời gian nhất định ,tổng giá cả phù hợpvới tổng giá trị của nó Giá cả thị trường tự phát lên xuống xoay quanh giá trị là biểu hiện sự hoạtđộng của quy luật giá trị.1.1.3 Mối quan hệ giữa giá cả, giá cả thị trường, giá cả độc quyền và giá trịhàng hoá. Quy luật giá trị biểu hiện qua các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bảnthành quy luật giá cả sản xuất( giai đoạn chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh) vàthành quy luật giá cả độc quyền ( giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền). Nótiếp tục tồn tại và hoạt động trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hộỉ các nướcxã hội chủ nghĩa ở các nước và ở nước ta. Ta xét mối quan hệ giữa giá cả , giá cả thị trường , giá cả độc quyền với giátrị hàng hoá : Gía cả : là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá . Gía trị là cơ sở của giácả .Khi quan hệ cung cầu cân bằng,giá cả hàng hoá cao hay thấp là ở giá trị củahàng hoá quyết định Trong diều kiện sản xuất hàng hoá, giá cả hàng hoá tự phát lên xuống xoayquanh giá trị tuỳ theo quan hệ cung cầu, cạnh tranh và sức mua của đồng tiền.Sựhoạt động của quy luật giá trị biểu hiện ở sự lên xuống của giá cả trên thịtrường.Tuy vậy, sự biến động của giá cả vẫn có cơ sở là giá trị , mặc dầu nóthường xuyên tách rời giá trị.Điều đó có thể hiểu theo hai mặt: 3 .Không kể quan hệ cung cầu như thế nào, giá cả không tách rời giá trịxã hội .Nếu nghiên cứu sự vận động của giá cả trong một thời gian dài thìthấy tổng số giá cả bằng tổng só giá trị , vì bộ phận vượt quá giá trị sẽ bù vàobộ phận giá cả thấp hơn giá trị (giá cả ở đây là giá cả thị trường. Gía cả thịtrường là giá cả sản xuấtgiữa người mua và người bán thoả thuận với nhau) Giá cả sản xuất là hình thái biến tướng của giá trị , nó bằng chi phí sản xuấtcủa hàng hoá cộng với lợi nhuận bình quân. Trong giai đoạn tư bản tự do cạnh tranh do hình thành tỷ suất lợi nhuận bìnhquân nên hàng hoá không bán theo giá trị mà bán theo giá cả sản xuất Gía trị hàng hoá chuyển thành giá cả sản xuất không phải là phủ nhận quyluật giá trị mà chỉ là biểu hiện cụ thể của quy luật giá trị trong giai đoạn tư bảntự do cạnh tranh.Qua hai điểm dưới đây sẽ thấy rõ điều đó: . Tuy giá cả sản xuất của hàng hoá thuộc nghành cá biệt có thể cao hơnhoặc thấp hơn giá trị , nhưng tổng giá trị sản xuất của toàn bộ hàng hoá của tấtcả các ngành trong toàn xã hội đều bằng tổng giá trị của nó.Tổng số lợi nhuậnmà các nhà tư bản thu được cũng bằng tổng số giá trị thặng dư do giai cấp côngnhân sáng tạo ra. .Giá cả sản xuất lệ thuộc trực tiếp vào giá trị . Gía trị hàng hoá giảmxuống, giá cả sản xuất giảm theo, giá trị hàng hoá tăng lên kéo theo giá cả sảnxuất tăng lên.Giá cả độc quyền : Trong giai đoạn tư bản độc quyền, tổ chức độc quyền đã nâng giá cả hànghoá lên trên giá cả sản xuất và giá trị . Gía cả độc quyền bằng chi phí sản xuấtcộng với lợi nhuận độc quyền. Lợi nhuận độc quyền vượt quá lợi nhuận bìnhquân. Khi nói giá cả độc quyền thì thường hiểu là giá cả bán ra cao hơn giá cả sảnxuất và giá trị, đồng thời cũng cần hiểu còn có giá cả thu mua rẻ mà tư bản độcquyền mua của người sản xuất nhỏ, tư bản vừa và nhỏ ngoài độc quyền. 4 Gía cả độc quyền không xoá bỏ giới hạn của giá trị hàng hoá , nghĩa là giácả độc quyền không thể tăng thêm hoặc giảm bớt giá trị và tổng giá trị thặng dưdo xã hội sản xuất ra; phần giá cả độc quyền vượt quá giá trị chính là phần giátrị mà những người bán ( công nhân, người sản xuất nhỏ , tư bản vừa và nhỏ…)mất đi.Nhìn vào phạm vi toàn xã hội , toàn bộ giá cả độc quyền cộng với giá cảkhông độc quyền về đại thể bằng toàn bộ giá trị .1.2 Vai trò của quy luật giá trị đối với nền kinh tế thị trường .1.2.1. Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá. Thực chất điều tiết sản xuất cuả quy luật giá trị là điều chỉnh tự phát cácyếu tố sản xuất như: tư liệu sản xuất ,sức lao động và tiền vốn từ ngành nàysang ngành khác,từ nơi này sang nơi khác.Nó làm cho sản xuất hàng hoá củangành này ,nơi này được phát triển mở rộng ,ngành khác nơi khác bị thuhẹp,thông qua sự biến động giá cả thị trường.Từ đó tạo ra những tỷ lệ cân đốitạm thời giữa các ngành ,các vùngcủa một nền kinh tế hàng hoá nhất định.Quy luật canh tranh thể hiện ở chỗ :cung và cầu thường xuyên muốn ăn khớpvới nhau,nhưng từ trước đến nay nó chưa hề ăn khớp với nhau mà thườngxuyên tách nhau ra và đối lập với nhau.Cung luôn bám sát cầu ,nhưng từ trướcđến nay không lúc nào thoả mãn được một cách chính xác Chính vì thế thị trường xảy ra các trường hợpsau đây:-Khi cung bằng cầu thì giá cả bằng giá trị hàng hoá,trường hợp này xảy ra mộtcách ngẫu nhiên và rất hiếm.-Khi cung nhỏ hơn cầu thì giá cả cao hơn giá trị ,hàng hoá bán chạy,lãi cao.Những người đang sản xuất những loại hàng hoá này sẽ mở rộng quy mô sảnxuất và sản xuất hết tốc lực ;những người đang sản xuất hàng hoá khác ,thuhẹp quy mô sản xuất cuả mình để chuyển sang sản loại hàng hoá này.Như vậytư liệu sản xuất ,sức lao động, tiền vốn được chuyển vào ngành này tănglên,cung về loại hàng hoá này trên thị trường tăng lên .-Khi cung lớn hơn cầu thì giá cả nhỏ hơn giá trị,hàng hoá ế thừa ,bán khôngchạy,có thể lỗ vốn.Tình hình này bắt buộc những người đang sản xuất loại 5hàng hóa này phải thu hẹp quy mô sản xuất ,chuyển sang sản xuất loại hàng hoácó giá cả thị trường cao hơn ;làm cho tư liệu sản xuất ,sức lao động và tiền vốnở ngành hàng hoá này giảm đi. Thực chất điều tiết lưu thông của quy luật giá trị là điều chỉnh một cách tựphát khối lượng hàng hoá từ nơi giá cả thấp đến nơi giá cả cao,tạo ra mặt bằnggiá cả xã hội.Giá trị hàng hoá mà thay đổi ,thì những điều kiện làm cho tổngkhối lượng hàng hoá có thể tiêu thụ được cũng sẽ thay đổi .Nếu giá trị thịtrường hạ thấp thì nói chung nhu cầu xã hội sẽ mở rộng thêm và trong nhữnggiới hạn nhất định ,có thể thu hút những khối lượng hàng hoá lớn hơn.Nếu giátrị thị trường tăng lên thì nhu cầu xã hội về hàng hoá sẽ thu hẹp và khối lượnghàng hoá tiêu thụ cũng sẽ giảm xuống.Cho nên nếu cung cầu đIũu tiết giá cả thịtrường hay nói đúng hơn đIũu tiết sự chênh lệch giũa giá cả thị trường và giá trịthị trường thì trái lại chính giá trị thị trường điều tiết quan hệ cung cầu ,hay cấuthành trung tâm ,chung quanh trung tâm đó những sự thay đổi trong cung cầu làmcho những giá cả thị trường phải len xuống. Trong xã hội tư bản đương thời ,mỗi nhà tư bản công nghiệp tự ý sản xuấtra cái mà mình muốn theo cách mình muốn ,và với số lượng theo ý mình .Đốivới họ số lượng mà xã hội cần là một lượng chưa biết ,cái mà ngày hôm naycung cấp không kịp thì ngày mai lại có thể cung cấp nhiều quá số yêu cầu .Tuyvậy người ta cung thoả mãn được nhu cầu một cách miễn cưỡng ,sản xuấtchung quy là căn cứ theo những vật phẩm người ta yêu cầu “… Khi thực hiện quy luật giá trị của sản xuất hàng hoá trong xã hội gồmnhững người sản xuất trao đổi hàng hoá cho nhau ,sự canh tranh lập ra bằngcách đó và trong điều kiện nào đó một trật tự duy nhất và mộy tổ chức duy nhấtcó thể có cuả nền sản xuất xã hội .Chỉ có do sự tăng hay giảm giá hàng mànhững người sản xuất hàng hoá riêng lẻ biết được rõ ràng là xã hội cần vậtphẩm nào và với số lượng bao nhiêu”(C.mác:sự khốn cùng của triết học ,nhàxuất bản Sự thật {8,19_20}) 61.2.2. Kích thích lực lượng sản xuất phát triển,tăng năng suất lao động xãhội Để tránh bị phá sản ,giành được ưu thế trong cạnh tranh và thu hút đượcnhiều lãi, từng người sản xuất hàng hoá đều tìm mọi cách cải tiến kỹ thuật,hợp lý hoá sản xuất, ứng dụng những thành tựu khoa học kĩ thuật mới vào sảnxuất để giảm hao phí lao động cá biệt của mình ,giảm giá trị cá biệt của hànghoá do mình sản xuất ra.Từ đó làm cho kỹ thuật của toàn xã hội càng phát triểnlên trình độ cao hơn,năng suất càng tăng cao hơn. Như thế là chúng ta thấy phương thức sản xuất tư liệu sản xuất luôn bị biếnđổi ,dẫn đến sự phân công tỉ mỉ hơn dùng nhiều máy móc hơn,lao động trên mộtquy mô lớn đưa đến lao động trên một quy mô lớn hơn như thế nào. Đó là quy luật luôn hất sản xuất ra con đường cũ và luôn buộc sản xuất phảilàm cho sức sản xuất của lao động khẩn trương hơn .Quy luật đó không gìkhác mà là quy luật nhất định giữ cho giá cả hàng hoá nghang bằng với chi phísản xuất của chính hàng hoá đó ,trong giới hạn của những biến động chu kì củathương mại.”…Nếu một người nào sản xuất dược rẻ hơn ,có thể bán đượcnhiều hàng hoá hơn và do đó chiếm lĩnh được ở trên thị trường một địa bàn rộnghơn bằng cách bán ra hạ giá hơn giá cả thị trường hiện hành hay hạ hơn giá trịthị trường thì anh taẽ làm ngay như thế và do đóẽ mở đầu một hành động dầndần buộc những người khác cũng phải áp dụng các phương pháp ít tốn kém hơnvà làm cho thời gian lao động xã hội cần thiết giảm xuống một mức thấp hơn. Theo Mác thì trong sự vận động bên ngoài những tư bản ,những quy luật bêntrong của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa trở thành những quy luật bắt buộc củasự cạnh tranh, rằng dưới hình thức đó đối với những nhà tư bản những quy luậtbiểu hiện thành động cơ của những hoạt động của họ,rằng như vậy là muốnphân tích một cách khoa học sự cạnh tranh thì trước đó phảI phân tích tính chấtbên trong của tư bản ,cũng như chỉ người nào hiểu biết sự vận động thực sựcủa các thiên thể –tuylà các giác quan không thể thấy được ,-thì mới có thể hiểuđược sự vận động bề ngoài của những thiên thể ấy; 71.2.3. Phân hoá những người sản xuất thành người giàu,người nghèo. Trong xã hội những người sản xuất cá thể , đã có mầm mống của mộtphương thức sản xuất mới .Trong sự phân công tự phát ,không có kế hoạch nàothống trị xã hội, phương thức sản xuất ấy đã xác lập ra sự phân công ,tổ chứctheo kế hoạch ,trong những công xưởng riêng lẻ ;bên cạnh sản xuất của nhữngngười sản xuất cá thể nhỏ đã làm xuất hiện sản xuất xã hội .Sản phẩm của hailoại sản xuất đó cùng bán trên một thị trường ,do đó giá cả ít ra cũng sấp xỉnhau.Nhưng so với sự phân công tự phát thì tổ chức có kế hoạch đương nhiênmạnh hơn nhiều ;sản phẩm của công xưởng dùng lao động xã hội là rẻ hơn sovới sản phẩm của những người sản xuất nhỏ,tản mạn.Sản xuất của nhữngngười sản xuất cá thể gặp thất bại từ nghành này đến nghành khác .Trong nềnsản xuất hàng hoá ,sự tác động cuả các quy luật kinh tế ,nhất là quyluật giá trịtất yếu dẫn đến kết quả:những người có điều kiện sản xuất thuận lợi ,nhiềuvốn,có kiến thức và trình độ kinh doanh cao ,trang bị kĩ thuật tốt sẽ phát tài ,làmgiàu.Ngược lại không có các điều kiện trên ,hoặc gặp rủi ro sẽ mất vốn phásản.Quy luật giá trị đã bình tuyển ,đánh giá những người sản xuất kinh doanh . Sự bình tuyển tự nhiên ấy đã phân hoá những người sản xuất kinh doanh rathành người giàu người nghèo.Người giàu trở thành ông chủ người nghèo dầntrở thành người làm thuê.Lịch sử phát triển của sản xuất hàng hoá đã chỉ ra làquá trình phân hoá này đã làm cho sản xuất hàng hoá giản đơn trong xã hộiphong kiến dần dần nảy sinh quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. “ …Mỗi người đều sản xuất riêng biệt ,cho lợi ích riêng của mình ,không phụthuộc vào nhà sản xuất khác .Họ sản xuất cho thị trường ,nhưng dĩ nhiên khôngmột người nào trong số họ biết được dung lượng của thị trường .Mối quan hệnhư vậy giữa nhưng người sản xuất riêng rẽ ,sản xuất cho một thị trườngchung,thì gọi là cạnh tranh,Dĩ nhiên trong nhữnh điều kiện ấy,sự thăng bằnggiữa sản xuất và tiêu dùng chỉ có thể có được sau nhiều lần biến động.Nhữngngười khéo léo hơn ,tháo vát hơn và có sức lực hơn sẽ ngày càng lớn mạnh nhờnhững sư biến động ấy;còn những người yếu ớt ,vụng về thì sẽ bị sự biến 8động đó đè bẹp .Một vài người trở nên giàu có,còn quần chúng trở nên nghèođói,đó là kết quả không tránh khỏi của quy luật cạnh tranh .Kết cục là nhữngngười sản xuất bị phá sản mất hết tính chất độc lập về kinh tế của họvà trởthành công nhân làm thuê trong công xưởng đã mở rộng của đối thủ tốt số củahọ” (V.Lenin:Bàn về cái gọi là vấn đề thị trường{9,127} Sự phát triển chủ nghĩa tư bản ,cùng sự bần cùng hoá của nhân dân là nhữnghiện tượng ngẫu nhiên.Hai điều đó tất nhiên đi kèm với sự phát triển của nềnkinh tế hàng hoá dựa trên sự phân công lao động xã hội.Vấn đề thị trường hoàntoàn bị gạt đI,vì thị trường chẳng qua chỉ là biểu hiện của sự phân công đó vàcủa sản xuất hàng hoá.Người ta sẽ thấy sự phát triển của chủ nghĩa tư bảnkhông những là có thể cómà còn là sự tất nhiên nữa,vì một khi kinh tế xã hội đãxây dựng trên sự phân công và trên hình thức hàng hoá của sản phẩm ,thì sự tiếnbộ về kỹ thuật không thể không dẫn tới chỗ làm cho chủ nghĩa tư bản tăngcường và mở rộng thêm. 9 Chương 2 Thực trạng sự vận dụng quy luật giá trị và giảI pháp nhằm vận dụng tốt hơn quy luật giá trị ở nước ta trong thời gian tới2.1 Kinh tế thị trường và sự cần thiết phát triển kinh tế thị trừong ở việtnam.2.1.1Khái niệm kinh tế thị trường .Kinh tế thị trường là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần,vận động theo cơchế thị trường.2.1.2Sự cần thiết khách quan phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam. Kinh tế hàng hoá là một kiểu tổ chức kinh tế –xã hội mà trong đó sản phẩmsản xuất để trao đổi và bán trên thị trường .Mục đích là thoả mãn nhu cầu củangươI mua tức là thoả mãn nhu cầu xã hội. Kinh tế thị trường là trình độ phát triển cao của kinh tế hàng hoá ,trong đótoàn bộ các yếu tố “đầu vào” và “đầu ra” của sản xuất đều thông qua thị trường.Kinh tế thị trường và kinh tế hàng hoá không đồng nhất với nhau,chúng khácnhau về trình độ phát triển,nguồn gốc và bản chất. ở nước ta tồn tại những cơ sở khách quan để phát triển kinh tế thị trườngnhư2.1.2.1Phân công lao động xã hội với tính cách là cơ sở chung của hàng hoáđược phát triển cả chiều rộng và chiều sâuPhân công lao động trong từng khu vực ,từng địa phương ngày càng phát triển,nóthể hiện một cách phong phú ,đa dạng và ngày càng cao.2.1.2.2Tồn tại nhiều hình thức sở hữu .Đó là sở hữu toàn dân,sở hữu tập thể ,sở hữu tư nhân(sở hữu cá thể ,sở hữutiểu chủ,sở hữu tư bản tư nhân),sở hưu hỗn hợp…2.1.2.3Thành phần kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể có những khác biệtnhất định. 10Tuy cùng dựa trên chế độ công hưu về tư liệu sản xuất nhưng mỗi đơn vị kinhtế lại có những quyền tự chủ ,lợi ích riêng.Mặt khác còn có sự khác nhau vểtìnhđộ kĩ thuật, công nghệ,tổ chức quản lý.2.1.2.4Quan hệ hàng hoá tiền tệ cần thiết trong quan hệ kinh tế đối ngoạiTtrong bối cảnh phân công lao động quốc tế ngày càng phát triển sâu sắcthì mốiquan hệ đó càng cần thiết vì mỗi nước là một quốc gia riêng biệt,là người chủsở hữu đối vớihàng hoá trao đổi trên thị trường thế giới. Như vậy kinh tế thị trường ở nước ta là một tồn tại tất yếu,khách quan,khôngthể lấy ý chí chủ quan mà xoá bỏ được. 2.2 Mô hình phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủnghĩa ở nước ta. Việt nam với tư cách là nước phát triển muộn về kinh tế thị trường , lại diễnra trong bối cảnh thời đại mới khác nhiều so với trước.Để nắm bắt” cơ hội’ ,vượt qua “thách thức”, rút ngắn khoảng cách lạc hậu , “tụt hậu” xa so với cácnước, giữ vững địng hướng xã hội chủ nghĩa đã chọnh , không thể phát triểntheo mô hình kinh tế thị trường cổ điển, mà nên chọn mô hình phát triển kinh tếthị trường rút ngắn, hiện đại là thích hợp.Tất nhiên không hoàn toàn giống nhưcác nước đã đi theo mô hình này, nhất là về tính định hướng xã hội chủ nghĩacủa nó. Mô hình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩả nướcta bao gồm các đặc trưng chủ yếu sau:2.2.1 Phát triển trong sự kết hợp hài hoà giữa quy luật phát triển tuần tự với quyluật phát triển nhảy vọt.2.2.2 Phát triển cùng một lúc ba trình độ phát triển của hình thái kinh tế hànghoá, đó là kinh tế hàng hoá giản đơn, kinh tế thị trường tự do(cổ điển) và kinhtế thị trường hỗn hợp(hiện đại). Tất nhiên, trong từng thời điểm, tính trội củamỗi trình dộ có khác nhau.2.2.3 Phát triển trong sự kết hợp hài hoà giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnhthời dại, coi trọng việc kết hợp vai trò thúc đẩy sự ra đời các nhân tố của kinh 11tế thị trường và vai trò quản lý vĩ mô của nhà nước xa hội chủ nghĩa trong qúatrình chuyển sang kinh tế thị trường hiện đại .

Xem thêm: Thị Trường Mục Tiêu Của Vinmart, Chiến Lược Marketing Của Vinmart

Xem thêm: Người Singapore Nghĩ Đủ Cách Kiếm Tiền Ở Singapore Mùa Cuối Năm

Ba đặc trưng nói trên có quan hệ mật thiết với nha, trong đó đặc trưng thứ ba có ý nghĩa quyết định .2.3thực trạng vận dụng cũng như tác động của quy luật giá trị trong nềnkinh tế thị trường ở nước ta hiện nay. Nền kinh tế nước ta dang từ sản xuất nhỏ đi lên san xuất lớn xã hội chủnghĩa ,từ sản xuất tự cung tự cấp lên sản xuất hàng hoá xã hội chủ nghĩa .Quyluật giá trị gắn liền nền sản xuất hàng hoá đó còn hoạt động trên một phạm vikhá rộng và trong một thời gian dài.Vai trò và phạm vi hoạt động của nó biểnđổi từng thời kì cùng với sự chuyển biến của quan hệ sản xuất ,của lực lượngsản xuất với sự phát triển của phân công lao động xã hội.Vì vậy trong khi xácnhận vai trò chủ đạo quy luật kinh tế xã hội chủ nghĩa,chúng ta cần nhận thứcđúng quy luật giá trị,tự giác vận dụng quy luật giá trị và những phạm trù kinh tếgắn liền với qui luật đó như tiền tệ ,giá cả ,tín dụng ,tài chính ..để kích thíchsản xuất và lưu thông hàng hoá phát triển ,thúc đẩy nền kinh tế nước ta tiếnnhanh trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Theo văn kiện đại hội đảng IX”Đảngvà nhà nước tachủ trương thực hiệnnhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thànhphần, vận hành theo cơ chế thị trường , có sự quản lý của nhà nước theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa”. Với các đặc trưng của mô hình này như đã nói ở trên, các quy luật kinh tếđược phép phát huy tác dụng của nó trong đó quy luật giá trị đóng vai trò là quyluật kinh tế căn bản chi phối toàn bộ sự phát triển của nền kinh tế . Như đã phân tích ở trên, quy luật giá trị có vai trò lớn trong nền sản xuất hànghoá . Chúng ta đã vận dụng quy luật giá trị vào:2.3.1.Trong lĩnh vực sản xuất.Nền sản xuất xã hội chủ nghĩa không chịu sự điều tiết của quy luật giá trị màchịu sự chi phối của quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa xã hội và quy luật 12phát triển có kế hoạch và cân đối nền kinh tế quốc dân .Tuy nhiên ,quy luật giátrị không phảI không có ảnh hưởng đến sản xuất.Những vật phẩm tiêu dùngcần thiết để bù vào sức lao động đã hao phí trong quá trình sản xuất ,đều đượcsản xuất và tiêu thụ dưới hình thức hàng hoá và chịu sự tác động của quy luậtgiá trị .Trong những thành phần kinh tế khác nhau ,tác động của quy luật giá trịcó những điểm không giống nhau.Nhà nước ta đã chủ động vận dụng quy luậtgiá trị vào lĩnh vưc sản xuất.Vì thế các xí nghiệp của chúng ta không thể vàkhông được bỏ qua quy luật giá trị Một nguyên tắc căn bản của kinh tế thị trường là trao đổi ngang giá tức làthực hiện sự trao đổi hàng hoá thông qua thị trường, sản phẩm phải trở thànhhàng hoá.Nguyên tắc này đòi hỏi tuân thủ quy luật giá trị _ sản xuất và trao đỏihàng hoá phải dựa trên cơ sở thời gian lao động xã hội cần thiết. Cụ thể: Xét ở tầm vi mô: Mỗi cá nhân khi sản xuát các sản phẩm đều cố gắng làmcho thời gian lao động cá biệt nhỏ hơn thời gian lao động xã hội . Xét ở tầm vĩ mô:Mỗi doanh nghiệp đều cố gắng nâng cao năng suất laođộng , chất lượng sản phẩm, giảm thời gian lao động xã hội cần thiết. Do vậy, nhà nước đua ra các chính sách để khuyến khích nâng cao trình độchuyên môn.Mỗi doanh nghiệp phải cố gắng cải tiến may móc, mẫu mã, nângcao tay nghề lao động. Nếu không, quy luật giá trị ở đây sẽ thực hiện vai trò đàothảicủa nó: loại bỏ những cái kém hiệu quả , kích thích các cá nhân,nghành,doanh nghiệp phát huy tính hiệu quả . Tất yếu điều đó dẫn tới sự phát triển củalực lượng sản xuất mà trong đó đội ngũ lao động có tay nghề chuyên môn ngàycàng cao, công cụ lao động luôn luôn được cải tiến. Và cùng với nó, sự xã hộihoá, chuyên môn hoá lực lượng sản xuất cũng được phát triển.Đây là những vậndụng đúng đắn của nhà nước ta. Theo yêu cầu của quy luật giá trị thì trong sản xuất giá trị cá biệt của từng xínghiệp phải phù hợp hoặc thấp hơn giá trị xã hội,do đó quy luật giá trị dùng làmcơ sở cho việc thực hiện chế độ hạch toán kinh tế trong sản xuất kinh doanh.Các cấp quản lí kinh tế cũng như các nghành sản xuất ,các đơn vị sản xuất ở 13cơ sở ,khi đặt kế hoạch hay thực hiện kế hoạch kinh tế đều phải tính đến giáthành ,quan hệ cung cầu ,để định khối lượng ,kết cấu hàng hoá…2.3.1.1 Nâng cao tính cạnh tranh của nền kinh tế. Việc chuyển từ chế độ tầp trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thịtrường thì cùng với nó là việc loại bỏ cơ chế xin cho, cấp phát , bảo hộ tronghoạt động sản xuất kinh doanh. Mỗi doanh nghiệp phải tự hạch toán, không bịràng buộc quá đángbởi các chỉ tiêu sản xuất mà nhà nước đưa ra và phải tựnghiên cứu để tìm ra thị trường phù hợp với các sản phẩm của mình; thực hiệnsự phân đoạn thị trường để xác định tấn công vào đâu, bằng những sản phẩmgì. Mặt khác, cùng với xu hướng công khai tài chính doanh nghiệp để giao dịchtrên sàn giao dịch chứng khoán, thúc đẩy tiến trình gia nhập AFTA , WTO; mỗicá nhân , mỗi doanh nghiệp đều phải nâng cao sức cạnh tranh của mình để cóthể đứng vững khi bão táp của qúa trình hội nhập quốc tế ập đến. Sức cạnhtranh được nâng cao ở đây là nói đến sức cạnh tranh giữa các doanh nghiệptrong nước với doanh nghiệp trong nươc, giữa doanh nghiệp trong nước vớidoanh nghiệp nước ngoài, giữa các cá nhân trong nước với cá nhân trong nước,giữa cá nhân trong nước với cá nhân nứoc ngoài (cũng có thể coi đây là hệ quảtất yếu của sự phát triển của lực lượng sản xuất)2.3.1.2 Tạo nên sự năng động của nền kinh tế thị trường Việt Nam. Cạnh tranh gay gắt sẽ đưa đến một hệ quả tất yếu là làm cho nền kinh tếnăng động lên .Vì trong cạnh tranh, mỗi người sẽ tìm cho mình một con đườngđi mới trong một lĩnh vực sản xuất, kinh doánhao cho tạo nên sự sản xuất hiệuquả nhất.Các con đường đó sẽ vô vàn khác nhau,các con đường đó luôn tạo ranhững lĩnh vực sản xuất mới.Và hơn nữa, cạnh tranh năng dộng sẽ làm cho sảnphẩm hàng hoá đa dạng về mẫu mã, nhiều về số lượng, cao về chất lượng. Bởivì, sự đào thải của quy luật giá trị sẽ ngày càng làm cho ssản phẩm hoàn thiệnhơn, mang lại nhiều lơi ích cho người tiêu dùng. 14 Sự năng động còn thể hiện ở sự phát triển nhiều thành phần kinh tế. Bởi vì,việc phát triển nhiều thành phần kinh tế có tác dụng thu hút nguồn nhân lực vàocác thành phần kinh tế, phát huy nội lực, tận dụng nội lực để sản xuất ra nhiềuhàng hoá thu lợi nhuận(lợi nhuận siêu nghạch, lợi nhuận độc quyền) hay nângcao trình độ sản xuất trong một nghành, một lĩnh vực nhất định .2.3.1.3 Thúc đẩy quá trình hộinhập quốc tế. Với mục đích tìm kiếm lợi nhuận, siêu lợi nhuận . Sự đầu tư trong nước vàđầu tư ra nước ngoài ngày càng phát triển, hay nói cách khác là thúc đẩy quátrình hội nhập quốc tế. Mỗi nước đều có những ưu thế, lợi thế riêng. Do thời gian và trình độ xuấtphát điểm của nền kinh tế khác nhau nên khi nước này cần vốn thì nước kia lạithừa.Do tốc độ phát triển khác nhau nên khi nước này phát triển thì nước kia lạiquá lạc hậu ; do sự phân bố tài nguyên khác nhau nên nước này có điều kiện sảnxuất cía này, nước kia có điều kiện sản xuất cái kiavà tạo ra một lợi thế so sánhtrên thương trường.Điều này thúc đẩy sự chuyên môn hoá, hiệp tác hoá sản xuấtđể có chi phí sản xuất thaaps và tuân theo sự điều tiết của quy luật giá trị , chiphí sản xuất thấp sẽ làm cho giá cả thấp, và do đó thắng trên thương trường. Ngoài ra khi quy luật giá trị tác động như vậy sẽ có tác dụng giáo dục nhữngcán bộ lãnh đạo kinh tế tiến hành sản xuất một cách hợp lí,và khiến họ tôntrọng kỉ luật .Nhờ đó mà học hỏi tính toán tiềm lực của sản xuất ,tính toán mộtcách chính xác ,tính đến tình hình thực hiện của sản xuất ,biết tìm ra những lựclượng dự trữ tiềm tàng giấu kín trong sản xuất Tuy nhiên điều tai hại là các cán bộ lãnh đạo ,các nhà chuyên môn về công táckế hoạch ,trừ số ít đều hiểu không thấu đáo tác dụng của quy luật giá trị ,khôngnghiên cứu và không biết chú ý đến tác dụng đó trong khi tính toán .Đó là nguyênnhân vì sao chính sách nước ta còn hay mơ hồ.2.3.2. Trong lĩnh vực lưu thông . 15 Phân phối và lưu thông trong xã hội chủ nghĩa có sự tác động khách quan củaquy luật giá trị .Việc vận dụng quy luật trong lưu thông ,phân phối được thểhiện ở những mặt sau2.3.2.1. Hình thành giá cả.Hình thức vận dụng quy luật giá trị tập trung nhất là khâu hình thành giá cả.Giácả là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị,cho nên khi xác định giá cả phảiđảm bảo yêu cầu khách quan là lấy giá trị làm cơ sở,phản ánh đầy đủ nhữnghao phí về vật tư và lao động để sản xuất hàng hoá .Giá cả phải bù đắp chi phísản xuất hợp lí ,tức là bù đắp giá thành sản xuất ,đồng thời phải bảo đảm mộtmức lãi thích đángđể tái sản xuất mở rộng.Đó là nguyên tắc chung áp dụng phổbiến cho mọi quan hệ trao đổi ,quan hệ giữa các xí nghiệp quốc doanh vớinhau ,cũng như nhà nước với nông dân . Giá cả là một phạm trù phức tạp ,sự chênh lệch giữa giá cả và giá trị là mộttất yếu khách quan của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa .Nhà nước ta đã vận dụngquy luật giá trị vào những mục đích nhất định ,đã phảI tính đến những nhiệmvụ kinh tế ,chính trị trước mắt và lâu dàI,căn cứ vào nhiều quy luật kinh tế xãhội chủ nghĩa.2.3.2.2.Nguồn hàng lưu thông.Trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa ,việc cung cấp hàng hoá cho thị trường dượcthực hiện một cách có kế hoạch.Đối với nhưng mặt hàng có quan hệ lớn đếnquốc kế dân sinh,nếu cung cầu không cân đối thì nhà nươc dùng biện pháp đẩymạnh sản xuất,tăng cường thu mua ,cung cấp theo định lượng ,theo tiêu chuẩnmà không thay đổi giá cả.Chính thông qua hệ thống giá cả quy luật có ảnhhưởng nhất định đến việc sự lưu thông của một hàng hoá nào đó.Giá mua caosẽ khơi thêm nguồn hàng ,giá bán hạ sẽ đẩy mạnh việc tiêu thụ,và ngượclại.Do đó mà nhà nước ta đã vận dụng vào việc định giá cả sát giá trị ,xoay quaygiá trị để kích thích cải tiến kĩ thuật ,tăng cường quản lí.Không những thế nhànước ta còn chủ động tách giả cả khỏi giá trị đối với từng loại hàng hoá trongtừng thời kì nhất định ,lợi dụng sự chênh lệch giữa giá cả và giá trị để điều tiết 16một phần sản xuất và lưu thông ,điều chỉnh cung cầu và phân phối Giá cả đượccoi là một công cụ kinh tế quan trọng để kế hoạch hoá sự tiêu dùng của xã hộiVí dụ như là giá cả của sản phẩm công nghiệp nặng lại dặt thấp hơn giá trị đểkhuyến khích sự đầu tư phát triển ,áp dụng kĩ thuật vào sản xuất.Tuy nhiên sự đIều chỉnh này ở nước ta không phảI bao giờ cung phát huy tácdụng tích cực,nhiều khi những chính sách này lại làm cho giá cả bất ổn,tạo đIềukiện cho hàng hoá nước ngoài tràn vào nước do giá cả hợp lí hơn . Kinh tế thi trường tuân thủ nguyên tắc trao đổi ngang giá hàng hoá , theo đuổihiệuquả phân phối tối ưu của các nguồn.Thứơc đo giá trị chú trọng hiệu quả kinh tếhình thành trong điều kiện kinh tế thị trường ; một khi được mở rộng, vận dụngvào lĩnh vực đời sống xã hội và quan hệ con người , không tránh khỏi sản sinhnhững quan khác nhau gắn bó với đạo đức con người đó là chuẩn mực giá trị”coi trọng tình nghĩa, xem thường lợi ích” hay “coi trọng lợi ích, xem thường tìnhnghĩa “.Do vậy , ở nước ta, phát triển kinh tế nhiều thành phần, vận hành theocơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủnghĩa, phải chú ý sự chuyển đổi quan niệm giá trị xã hội sao cho phù hợp vớiđạo đức dân tộc truyền thống và hiện đại .Thể hiện rõ nhất ở nước ta hiện naylà nạn hàng giả, trốn thuế, buôn lậu…2.4những giảI pháp để vận dụng tốt hơn quy luật giá trị đối với nền kinhtế nước ta thời gian tới.2.4.1Những giải pháp của đảng và nhà nước ta. Để phát huy các tác động tích cực, đẩy lùi các tác động tiêu cực của kinh tế thịtrường cần nâng cao vai trò quản lý của nhà nước thông qua quy hoạch, kếhoạch , công cụ tài chính,; qua các phương thức kích thích , giáo dục, thuyêtphục và cả cưỡng chế nữa. Chủ trương của Đảng ta trong thời gian tới là :2.4.1.1 Phát triển kinh tế , công nghiệp hoá, hiện đại hoá là trung tâm . 17 Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng của nhà nước ta.Phát triển kinhtế,công nghiệp hoá ,hiện đại hoá để từ đó tạo đà để thực hiện những nhiệm vụkhác,đưa nước ta nhanh chóng phát triển ,tiến theo con đường xã hội chủ nghĩa2.4.1.2 Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần.Tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế cùng phát triển theo định hướng xãhội chủ nghĩa2.4.1.3Tiếp tục tạo lập đồng bộ các yếu tố của kinh tế thi trường, tăng cườngvai trò quản lý kinh tế của nhà nước .Đây là một yêu cầu cấp thiết ,là đIều kiện cơ bản để xây dựng thể chế kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong thời gian tới.2.4.1.4 Giải quyết tốt các vấn đề xã hội , nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.Đây là nhiệm vụ nhằm vận dụng tốt hơn quy luật giá trị với nền kinh tế nướcta2.4.1.5 Chủ động hội nhập kinh tế quốc tếvà khu vực theo tinh thần phát huy tốiđa nội lực nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế , bảo đảm độc lập, tự chủvà địnhhướng xã hội chủ nghĩa , bảo vệ lợi ích dân tộc , giữ vững an ninh quốc gia ,giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái.2.4.2Những giải pháp của bản thân.Em xin đưa ra một số biện pháp nhỏ nhằm vận dụng tốt hơn quy luật giá trị ởnước ta hiện nay.2.4.2.1Giải phóng lực lượng sản xuất ,huy động mọi nguồn lực để thúc đẩynhanh công nghiệp hoá,hiện đại hoá,nâng cao hiệu quả kinh tế-xã hội,cải thiệnđời sống nhân dân.NHà nước bằng các công cụ, chính sách kinh tế vĩ mô để dẫndắt ,hướng dẫn cho hệ thống thị trường phát triển,nhànước có vai trò quantrọng trong quá trình phân phối đảm bảo công bằng ,hiệu quả,hướng tới xã hộicông bằng,dân chủ,văn minh.2.4.2.2Nhà nước cần chú ý hơn tới vấn đề đồng bộ hệ thống thị trường ở nướcta 18 ở nươc ta một số loại thị trường thì phátt triển nhanh chóng,phát huy đượchiệu quả trong nền kinh tế thị trường,trong khi đó một số loại thị trường còn rấtsơ khai,chưa hình thành một cách đầy đủvà bị biên dạng.Vì thế nhà nước cần cónhững biện pháp để vực dậy một số thị trường còn bỏ ngỏ.2.4.2.3Việc vận dụng quy luật giá trị trong định giá giả cả phải có giới hạn,cócăn cứ kỉnh tế .Như vậy mới có tác dụng trong việc phát triển sản xuất2.4.2.4Nhà nước ta khivận dụng quy luật giá trị phảI xuất phát từ nhiều quyluật kinh tế của chủ nghĩa xã hội.,căn cứ vào nhiệm vụ kinh tế ,chính trị từngthời kì . Phần kết luận: Quy luật giá trị có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển kinh tế thitrường , nó là quy luật kinh tế căn bản chi phối sự vận động của nền kinh tế thịtrường . Sự tác động của quy luật giá trị một mặt thúc đẩy sự phát triển củanền kinh tế, mặt khác gây ra các hệ quả tiêu cực …Đối với nền kinh tế thitrường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta giai đoạn hiện nay, quy luật giátrị đóng một vai trò cực kỳ quan trọng. Tuy nhiên có phát huy được các mặt tíchcưc , đẩy lùi các mặt tiêu cực còn là một vấn đề phụ thuộc nhiều vào vai tròquản lý vĩ mô của nhà nước và nhận thức của mỗi công dân. Mục lục.Phần mở đầu………………………………………………………………………………………….1Chương1: Cở sở lí luận về quy luật giá trị và vai trò của quy luật giá trị với nền kinh tế thị trường……………………………………………..21.1.Nội dung quy luật giá trị và sự vận động của quy luật giá trị………………..21.1.1Khái niệm quy luật giá trị…………………………………………………………………21.1.2. Nội dung và sự vận động của quy luật giá trị………………………………….21.1.3. Mối quan hệ giữa giá cả sản xuất, giá cả thị trường, giá cả độc quyền với giá trị hàng hoá…………………………………………………3 191.2. Vai trò quy luật giá trị với nền kinh tế thị trường ……………………………….4 ĐIều tiết và lưu thông hàng hoá 4 1.2.1 Kích thích lực lượng sản xuất phát triển6 1.2.2 Phân hoá người sản xuất 7 1.2.3Chương 2:Thực trạng vận dụng quy luật giá trị và giảI pháp nhằm tốt hơn quy luật giá trị ở nước ta thời gian tới……………………….9 2.1. Kinh tế thị trường và sự cần thiết phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam 9 2.1.1.KháI niệm kinh tế thị trường ….9 2.1.2 Sự cần thiết khách quan phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam . .9 2.2. Quá trình phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta 10 2.2.1. Phát triển trong sự kết hợp hàI hoà giữa quy luật phát triển kinh tế tuân tự với quy luật phát triển nhảy vọt ………………………………..10 2.2.2 Phát triển các hình tháI kinh tế hàng hoá…………………………………10 2.2.3.Phát triển và kết hợp hàI hoà sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại………………………………………………………………………………..10 2.3. Thực trạng vận dụng cũng như tác động của quy luật giá trịvới nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay ……………………………….10 Trong lĩnh vực sản xuất………………………………………………………….11 2.3.1 Trong lĩnh vực lưu thông……………………………………………………….14 2.3.2 2.4. Những giải pháp để vận dụng tốt hơn quy luật giá trị với nền kinh tế nước ta thời gian tới………………………………………………………………….152.4.1 Những biện pháp của đảng và nhà nước…………………………………….152.4.2 Những biện pháp của bản thân…………………………………………………..16 Phần kết luận………………………………………………………………………………17 20

Trả lời

Back to top button